-
Sunday, June 12, 2011
Billionaire
[Bruno Mars]
I wanna be a billionaire so fricking bad
Buy all of the things I never had
Uh, I wanna be on the cover of Forbes magazine
Smiling next to Oprah and the Queen
[Chorus]
Oh every time I close my eyes
I see my name in shining lights
A different city every night oh
I swear the world better prepare
For when I’m a billionaire
[Travis "Travie" McCoy]
Yeah I would have a show like Oprah
I would be the host of, everyday Christmas
Give Travie a wish list
I’d probably pull an Angelina and Brad Pitt
And adopt a bunch of babies that ain’t never had sh-t
Give away a few Mercedes like here lady have this
And last but not least grant somebody their last wish
Its been a couple months since I’ve single so
You can call me Travie Claus minus the Ho Ho
Get it, hehe, I’d probably visit where Katrina hit
And damn sure do a lot more than FEMA did
Yeah can’t forget about me stupid
Everywhere I go Imma have my own theme music
[Chorus]
Travie Mccoy Billionaire lyrics found on http://www.directlyrics.com/travie-mccoy-billionaire-lyrics.html
Oh every time I close my eyes
I see my name in shining lights
A different city every night oh
I swear the world better prepare
For when I’m a billionaire
Oh oooh oh oooh for when I’m a Billionaire
Oh oooh oh oooh for when I’m a Billionaire
[Travis "Travie" McCoy]
I’ll be playing basketball with the President
Dunking on his delegates
Then I’ll compliment him on his political etiquette
Toss a couple milli in the air just for the heck of it
But keep the fives, twentys (?) completely separate
And yeah I’ll be in a whole new tax bracket
We in recession but let me take a crack at it
I’ll probably take whatevers left and just split it up
So everybody that I love can have a couple bucks
And not a single tummy around me would know what hungry was
Eating good sleeping soundly
I know we all have a similar dream
Go in your pocket pull out your wallet
And put it in the air and sing
[Bruno Mars]
I wanna be a billionaire so fricking bad
Buy all of the things I never had
Uh, I wanna be on the cover of Forbes magazine
Smiling next to Oprah and the Queen
[Chorus]
I wanna be a billionaire so frickin bad!
Wednesday, April 6, 2011
Làm thế nào dịch chuyển núi Phú Sĩ?
Bài 1 - Làm thế nào dịch chuyển núi Phú Sĩ?
Cần bao nhiêu thời gian để có thể dịch chuyển núi Phú Sĩ? Tại sao hai đầu lon bia lại hơi nhỏ lại? Có phải lúc nào mặt trời cũng mọc ở hướng đông?... Những câu hỏi không ai biết đáp án chính xác là gì như thế đang được các tập đoàn hàng đầu thế giới áp dụng khi tuyển dụng người tài, chọn đúng người cho tương lai.
Năng lực trí tuệ, sự sáng tạo và cách nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ được xem là những đặc tính cần thiết để tồn tại trên thương trường đầy cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Con nhân sư và Microsoft
TT - Trong các trò chơi điện tử, bạn liên tục gặp phải những đối thủ lạ lùng luôn tìm cách tấn công bạn. Để được lên bậc cao hơn, bạn cần phải chiến thắng và giải quyết được một vấn đề hoặc một câu hỏi nào đó.
Rất ít người đạt được đến trình độ cao nhất. Trò chơi này chính là sự nâng cấp của câu chuyện thần thoại Hi Lạp về con nhân sư và chàng Oedipus. Con nhân sư sẽ ăn tươi nuốt sống bất cứ ai không giải được câu đố “Con gì sáng đi bốn chân, trưa đi hai chân, chiều đi ba chân?”. Oedipus giải được câu đố của nhân sư. Đó là con người.
Thử thách bằng câu đố
Câu chuyện về con nhân sư cho đến nay vẫn còn đọng lại một điều gì đó để suy ngẫm. Huyền thoại về những người chứng minh được lòng quả cảm bằng cách bắt tay vào giải đáp các câu đố khó vẫn thường xuất hiện trong mọi nền văn hóa trên khắp thế giới.
Việc thử thách bằng các câu hỏi hóc búa có lẽ đã được các thiền sư Nhật Bản nâng tới đỉnh cao nghệ thuật. Một lần, thiền sư Shuzan giơ cây gậy ngắn lên và nói với một môn đệ của mình như sau: “Nếu ngươi gọi nó là đoản trượng, ngươi phản thực tại. Nếu ngươi không gọi nó là đoản trượng, ngươi phản chứng cớ. Bây giờ ngươi gọi nó là cái gì nào?”. Các bạn hãy nhớ, theo truyền thống của Thiền tông, mỗi câu trả lời không đúng bạn sẽ bị chính cái gậy này quật mạnh vào đầu.
Top ten của top ten
Có thể xem Microsoft là vương quốc của nhân tài trên cơ sở bình đẳng. Tập đoàn máy tính này kiên quyết chỉ tuyển dụng những người thuộc nhóm “10% tốt nhất trong số 10% những người xuất sắc nhất”, hay còn gọi là “top ten của top ten”. Những cuộc phỏng vấn của Microsoft được tiến hành cẩn thận nhằm lọc đi những người “vừa vặn đủ năng lực” - nghĩa là những người không đạt tới mức yêu cầu của hãng về động lực cạnh tranh cũng như khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Giống như con nhân sư, bộ phận tuyển nhân sự của Microsoft để lại vô số ứng viên đã gục ngã.
Microsoft đã áp dụng ý tưởng “thử thách bằng câu đố” của người xưa vào cuộc sống ngày nay. Khi dùng chúng để lựa chọn nhân viên, Microsoft đã nhắm tới khía cạnh hấp dẫn hơn của thế hệ sinh ra trong thời đại kỹ thuật số - khái niệm về sự độc lập trong suy nghĩ, thái độ biết nghi ngờ trước những giá trị đã được thiết lập.
Microsoft là một chốn can qua, minh chứng đồng thời cho những đặc tính tốt nhất cũng như dở nhất của cộng đồng nước Mỹ. Hãng phần mềm do Bill Gates và Paul Allen sáng lập nên là một trong những câu chuyện thành công nhất thế giới trong 25 năm cuối cùng của thế kỷ 20.
Sự cáo buộc của Bộ Tư pháp Mỹ đối với Microsoft liên quan đến việc vi phạm luật chống độc quyền cũng không làm giảm đi uy tín của hãng. Thậm chí ngược lại: Microsoft ngày nay bị mang tiếng xấu nhưng ai cũng biết rằng trong cái rủi có cái may. Người ta vẫn nghi ngại về Microsoft, và họ cũng lại cho rằng nếu hãng máy tính này sử dụng cách thức tuyển dụng đó, có thể xét ở khía cạnh đạo đức học thì quá lố, song chắc hẳn nó phải đem lại hiệu quả.
Với việc thư giới thiệu ngày càng ít phổ cập và ít tác dụng, nhà tuyển dụng sẽ phải tìm đến những nguồn thông tin khác. Phỏng vấn là một trong những phương pháp trực tiếp hữu hiệu nhất để đánh giá ứng viên. Các chuyên gia nhân sự phân loại câu hỏi phỏng vấn thành hai dạng: dạng “truyền thống” và dạng “hành vi”.
Câu hỏi truyền thống bao gồm tất cả các khuôn mẫu cũ mà bất cứ một công dân Mỹ nào khi đi tìm việc đều thuộc nằm lòng: “Bạn muốn mình sẽ trở thành người thế nào sau năm năm nữa? Bạn thường làm gì trong các ngày nghỉ? Hãy cho biết tên cuốn sách cuối cùng bạn đã đọc? Bạn tự hào điều gì nhất ở bản thân?”.
Xem chừng các câu hỏi này là về tính trung thực. Nhưng suy cho cùng, chúng mang tính ngoại giao. Chính điều này dẫn đến sự phát triển các câu hỏi hành vi. Một ví dụ được Microsoft sử dụng: “Bạn hãy kể lại một tình huống khó khăn mà bạn đã gặp phải trong cuộc sống và đã giải quyết nó một cách tốt đẹp”. Ví dụ khác: “Hãy kể lại một trường hợp bạn không đủ thời gian cho công việc cần phải kết thúc vào một thời hạn đã định”.
Ưu điểm của những câu hỏi hành vi so với những câu hỏi truyền thống là ở chỗ bịa ra cả một câu chuyện thì bao giờ cũng khó hơn một câu đáp ngắn. Nhưng đáng tiếc rằng cả câu hỏi truyền thống lẫn câu hỏi hành vi đều không thể thay đổi được hai giây nhìn nhận ban đầu của người phỏng vấn, không chứng tỏ rõ ràng là cách thức hữu hiệu cho các buổi phỏng vấn tuyển dụng nhân sự với quĩ thời gian luôn eo hẹp.
Lấy tương lai làm định hướng
“Điều quan trọng nhất mà chúng tôi phải làm là tuyển chọn được người tài vào làm việc” - đó là thông điệp mà ông Steve Ballmer, tổng giám đốc của Tập đoàn Microsoft, thường nhắc đi nhắc lại. Nhưng làm thế nào để có thể phát hiện những người tài? Ngày nay thật khó đánh đồng tài năng với một tập hợp các kỹ năng đặc trưng. Kỹ năng có thể trở nên vô dụng vào ngày hôm sau.
Microsoft hiểu rõ rằng họ cần tìm được những người có tài năng làm việc cho mình - những người có khả năng tạo ra một Microsoft với vị thế mới trong tương lai năm hay mười năm sau. Microsoft lấy tương lai làm định hướng trong việc tuyển nhân viên.
Ở mức độ cao hơn bất cứ một tập đoàn lớn nào khác, Microsoft nhìn nhận ứng viên xin việc như những “tờ giấy trắng”. Quan điểm của hãng là nhận người vì những công việc họ có thể làm trong tương lai chứ không phải vì những việc họ đã làm được trong quá khứ.
Cũng bởi lập trình được coi là chuyên ngành của những người trẻ tuổi mà Microsoft đã đón nhận một số lượng lớn các sinh viên mới tốt nghiệp vào làm việc. Vì vậy kinh nghiệm làm việc không phải là tiêu chuẩn bắt buộc trong các quyết định tuyển dụng. Hãng này không quan tâm lắm đến việc ứng viên đã tốt nghiệp trường đại học nào, có bằng cấp gì.
“Chúng tôi hiểu rất rõ uy tín ảo của các trường đại học” - một trong số những nhân viên điều hành cao cấp của tập đoàn tuyên bố. Thật ra, tình hình này đã có ít nhiều thay đổi, và Bill Gates - người từng bỏ dở việc học hành tại Trường ĐH Harvard - đã bắt đầu khuyến khích các ứng viên muốn vào làm việc ở đây nên có bằng cấp tử tế. Tuy nhiên Microsoft chưa bao giờ nhận người vào làm việc chỉ vì họ đã tốt nghiệp đại học.
Microsoft cũng là một tập đoàn có tư tưởng nước lớn. Nhân viên của Microsoft ở Redmond ngầm cho rằng các đối thủ cạnh tranh khác như Sun, Oracle, IBM cũng như tất cả các hãng còn lại chỉ là địa chỉ đầu quân của những kẻ thất bại, lười biếng và dốt nát - tóm lại là những kẻ “trượt vỏ chuối” trong các kỳ tuyển dụng vào Microsoft.
Kinh nghiệm làm việc duy nhất được thừa nhận - đó là kinh nghiệm làm việc tại Microsoft. Vì vậy nếu ứng viên đã có kinh nghiệm làm việc, mấu chốt quan trọng vẫn là khả năng anh ta có thể làm được gì trong tương lai. Việc dự đoán tương lai của ứng viên phụ thuộc vào việc anh ta trả lời những câu hỏi trong thời gian phỏng vấn tốt đến mức độ nào.
Adam David Barr, cựu nhân viên trong bộ phận tuyển nhân sự của Tập đoàn Microsoft, nói: “Microsoft tin là có thể đánh giá được một con người thông qua bốn hay năm cuộc phỏng vấn dài một giờ”.
Kỳ 2: IQ và thung lũng Silicon
TT - Thời trẻ, Bill Gates thường được nhắc đến như là tác giả của câu nói rằng trên đời này chỉ số trí tuệ là tất cả. Bill Gates say sưa với chỉ số trí tuệ như một số doanh nhân thời bấy giờ nghiện xì gà, rượu Martini hoặc miếng bít tết lòng đào to tướng.
Bill Gates giải thích triết lý tuyển nhân viên của ông như sau: với một người thông minh và nắm bắt vấn đề nhanh thì bạn có thể dạy họ bất cứ điều gì. Vậy thực chất trí tuệ là gì?
Cha con nhà Terman
Nhà tâm lý học Lewis M.Terman (1877 - 1956) là giảng viên tại Trường đại học Stanford, ông đã soạn thảo trắc nghiệm kinh điển để đánh giá chỉ số trí tuệ và tuyên truyền không mệt mỏi việc sử dụng chúng. Sau vài năm giảng dạy, Lewis Terman trở thành ngôi sao sáng nhất trong số những giáo viên ở Stanford, là người có công đưa Trường Stanford thành một trong những trung tâm tri thức quan trọng bậc nhất thế giới, và thung lũng nhỏ Silicon trước kia chỉ được biết đến như là nơi trồng mơ thì nay đã có vị trí xứng đáng trên bản đồ địa lý thế giới. Lewis đã dịch sang tiếng Anh một trong những trắc nghiệm đầu tiên về trí tuệ của chuyên gia tâm lý học người Pháp Alfred Binet. Lịch sử đã trùng lặp khi cả Lewis và con trai ông
- Frederick - đều đóng những vai trò quan trọng trong việc biến thung lũng Silicon thành một trung tâm công nghệ cao của thế giới.
Kết quả trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet được Terman đặt cho một cái tên rất “đắt” và dễ nhớ là chỉ số trí tuệ (còn gọi là chỉ số thông minh), viết tắt là IQ (intelligence quotient). Nhà tâm lý học William Stern trước đó từng đề nghị chia số “tuổi trí tuệ” của một đứa trẻ cho tuổi sinh học của nó để nhận được cái gọi là “chỉ số phát triển trí tuệ”. Chỉ số này cho biết đứa trẻ thông minh tới mức độ nào. Terman phát triển ý tưởng của William Stern bằng cách nhân con số thu được với 100 và đặt tên cho nó là “chỉ số trí tuệ”. Cái tên IQ đã ra đời như vậy.
Công thức này không thích hợp lắm đối với người lớn. Chẳng hạn, nếu một người có tuổi sinh học là 30 nhưng lại có tuổi trí tuệ của người 50 tuổi thì điều này sẽ nói lên điều gì? Terman đã giải quyết vấn đề này bằng cách đơn giản như sau: ông sửa lại giá trị của IQ để sao cho con số 100 là chỉ số trí tuệ trung bình của một người bất kể ở tuổi tác nào. Terman ước mơ biến nước Mỹ thành một xã hội lý tưởng trọng dụng nhân tài, trong đó từ những người trí tuệ kém phát triển cho đến những thiên tài đều được làm những công việc thích hợp tương ứng với IQ của mình.
Nói đến thung lũng Silicon thì phải nói về con trai của Lewis Terman - Frederick Terman. Bạn sẽ thấy ngày nay tên tuổi dòng họ Terman xuất hiện khắp nơi trong Trường đại học Stanford. Terman con xuất thân là một kỹ sư điện, sau đó trở thành giáo sư, chủ nhiệm khoa và cuối cùng là hiệu trưởng Trường đại học Stanford. Ông cũng là người có công nhiều nhất đưa trường đại học của mình lên vị trí như hiện nay. Đóng góp của Frederick đối với văn hóa Mỹ không kém gì so với đóng góp của cha ông. Với ý muốn xóa đi khoảng cách giữa giới kinh doanh và nền khoa học hàn lâm, ông mơ ước thành lập một khu công nghiệp ở Palo-Alto, ngay cạnh trường đại học. Năm 1918, ông đã thuyết phục được hai sinh viên tài năng của mình là William Hewlett và David Packard mở xưởng sản xuất trong một nhà để xe tại Palo-Alto, sản phẩm đầu tay của họ là các máy phát âm thanh tần số thấp. Năm 1956, Terman thu hút được một doanh nhân nổi tiếng thời bấy giờ tham gia dự án của mình: William Shockley. Lúc này, Shockley đang nung nấu ý định thành lập công ty riêng nhằm thương mại hóa công nghệ bán dẫn. Hoạt động quản lý công ty của Shockley bắt đầu từ việc phỏng vấn tuyển nhân sự. Ông buộc mọi ứng viên đều phải làm trắc nghiệm IQ. Và ông đã tìm được những kỹ sư và nhà khoa học tài năng tầm cỡ quốc tế. Gordon Moore (tác giả của định luật Moore nổi tiếng và là người đồng sáng lập Công ty Intel) nhớ lại hồi đó khi ông làm các bài trắc nghiệm thì Shockley cầm chiếc đồng hồ bấm giây. Sau cuộc phỏng vấn, Shockley đánh giá Moore đủ thông minh để được nhận vào làm việc.
“Lời đề nghị khiếm nhã”
Một trong số những “lời đề nghị hết sức khiếm nhã” của Shockley thời đó đối với Chính phủ Mỹ là chính phủ nên trả một khoản tiền bồi thường nào đó cho những người có IQ thấp, đổi lại những người này sẽ triệt sản vĩnh viễn, khước từ quyền có con nối dõi. Ông đề nghị khoản tiền đó tính như sau: nếu IQ trung bình là 100, những người trí tuệ kém phát triển sẽ có IQ nhỏ hơn 100, và số tiền bồi thường cho họ sẽ là (100 - giá trị IQ của họ) x 1.000 USD! Sau đó ông lại nhận thấy rằng đối với những người thiểu não thật sự thì phép tính này là rất khó hiểu, vậy lại phải đưa thêm ra một phần thưởng đặc biệt kèm theo dành cho những người có công thuyết phục họ đi triệt sản.
Năm 1989, khi cái chết cận kề, Shockley đã thành công trong việc biến hai khái niệm chỉ số trí tuệ và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trở thành đồng nhất trong nhận thức của xã hội Mỹ. Ông đã làm cho tất cả mọi người phải xa lánh, kể cả những người mang trong mình dòng máu của ông. Chuyện về Shockley có lúc đã làm người dân Mỹ dần dần vỡ mộng về tính vạn năng của trắc nghiệm IQ. Từ những năm 1930, các trường đại học và các nhà tuyển dụng đã bắt đầu hiểu ra rằng trắc nghiệm IQ hoàn toàn không phải là phương thuốc trị bách bệnh như Terman từng tuyên truyền. Năm 1964, do có sự phân biệt chủng tộc nên việc kiểm tra IQ ở các trường phổ thông tại New York bị đình lại. Đến năm 1971, Tòa án tối cao Mỹ đã ra quyết định cấm sử dụng các bài trắc nghiệm IQ trong phần lớn các dạng tuyển dụng nhân sự. Tuy nhiên, vượt qua những cấm đoán, việc trắc nghiệm IQ vẫn diễn ra ở những công ty, bởi vì họ biết đó là cách để phát hiện người tài.
Nhiều người biết rõ rằng có sự giống nhau giữa các cuộc phỏng vấn của Microsoft với các trắc nghiệm IQ. Các chuyên gia tuyển nhân sự của Microsoft sử dụng bài toán đong 7 lít nước bằng hai cái bình 3 lít và 5 lít. Đây là bài toán rất giống với đề bài trong trắc nghiệm Stanford - Binet. Quan niệm về phương pháp phỏng vấn của Microsoft rất giống với quan niệm về những nghi lễ nhập môn khổ ải của hội huynh đệ nào đó: đối với những người dễ dàng trải qua những thử thách đó, họ có cách nhìn tích cực hơn nhiều so với những kẻ buộc phải “hành xác” bằng cách đứng phơi sương cả đêm giữa cánh đồng ngô với độc bộ đồ lót trên người mà cuối cùng thì vẫn xôi hỏng bỏng không, không được tiếp nhận vào hội.
Microsoft không phải là nơi phát sinh ý tưởng này. Các tài liệu mới nhất cho thấy việc sử dụng các bài toán đố trong các cuộc phỏng vấn bắt đầu vào năm 1979. Steve Abell (hiện là chủ tịch Công ty brising.com hoạt động trong lĩnh vực tư vấn phần mềm) nhớ lại vào năm đó ông có trải qua một cuộc phỏng vấn tuyển nhân sự ở Công ty Hewlett - Packard, nơi người ta đề nghị ông giải một bài toán logic. Câu hỏi đầu tiên dành cho Steve Abell ở Hewlett - Packard hồi đó như sau: “Bạn có tám đồng xu, một trong số đó nhẹ hơn những đồng còn lại. Hãy xác định nó sau hai lần cân so sánh mà không dùng quả cân”. Các “công dân Silicon” ngày nay luôn tự hào cho rằng các cuộc phỏng vấn trí tuệ bắt nguồn từ thung lũng nổi tiếng này.
Kỳ 3: Căng thẳng với Wall Street
TT - Những năm 1990, cách phỏng vấn của Microsoft đã trở thành chứng bệnh di căn. Các câu hỏi hóc búa, trò đố mẹo hoặc những yêu cầu kỳ quặc bắt đầu được các công ty ở bên ngoài trục Seattle - Silicon sử dụng rộng rãi.
Một trong những nơi mà các câu hỏi phỏng vấn khó trả lời được đưa ra nhiều nhất là cộng đồng tài chính ở New York (Mỹ).
>> Kỳ 1: Con nhân sư và Microsoft
>> Kỳ 2: IQ và thung lũng Silicon
Cánh cửa việc làm chỉ mở ra cho con sói
Phỏng vấn bằng cách đặt câu hỏi trí tuệ rất phù hợp với “văn hóa Phố Wall”. Ở nơi cuộc cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt và ranh giới thị phần là rất mong manh, giới tài chính luôn có các cuộc phỏng vấn tuyển nhân tài rất khắt khe. Với kiểu “phỏng vấn căng thẳng” hay phỏng vấn tạo stress, người ta cố gắng làm cho ứng viên cảm thấy không thoải mái để thăm dò phản ứng của anh ta/cô ta.
Theo qui trình của “liệu pháp im lặng”, bạn sẽ được mời đến phỏng vấn tại phòng làm việc của ai đó ở Wall Street. Trong vòng 5 hay 10 phút, những người ở đây không nói gì với bạn cả. Bạn tự giới thiệu về mình, giơ tay ra bắt, không một phản ứng nào hết. Người phỏng vấn có thể đọc báo, xem bản lý lịch của bạn. Và không nói một lời. Hoặc có thể người phỏng vấn giả vờ ngủ thiếp đi. Chuyện này tưởng như đùa, nhưng lại là kiểu chiến thuật tương đối thông dụng đến nỗi WetFeet.com - một trang web dành cho những người đang tìm việc - đã mở một diễn đàn thảo luận về việc ứng viên nên đối phó như thế nào khi bị rơi vào tình huống này. Trang web này khuyên bạn nên viết vào mảnh giấy dòng chữ “Tôi rất hài lòng về cuộc gặp gỡ với ngài” đặt trên bàn của người phỏng vấn đang thiu thiu ngủ rồi đứng lên ra về. Bạn hãy hi vọng rằng người phỏng vấn sẽ gọi bạn trở lại trước khi bạn ra khỏi cửa. Hoặc bạn được dẫn vào phòng họp và được đề nghị “ngồi xuống đâu đó”.
Sau khi bạn đã thực hiện yêu cầu, người phỏng vấn sẽ hỏi: “Tại sao anh/chị lại ngồi chỗ đó?”. Những chiếc bàn ở đa số các phòng họp thường có hình chữ nhật. Bạn sẽ chọn ngồi chỗ nào, ở đầu bàn hay ở cạnh bàn? Ở đây, thâm ý của nhà tuyển dụng là những con sói - những người có bản lĩnh mạnh mẽ hay chọn chỗ ngồi ở đầu bàn, còn những con cừu - những người nhút nhát thì ngồi sang bên cạnh. Cánh cửa việc làm chỉ mở ra cho con sói mà thôi.
Cần bao nhiêu thời gian để dịch chuyển núi Phú Sĩ?
Công ty tư vấn Booz, Allen & Hamilton có lẽ là tác giả của câu hỏi độc đáo này. Bạn hãy lên kế hoạch tưởng tượng nhưng rất khoa học là sẽ dịch chuyển nguyên vẹn cả núi Phú Sĩ theo cách các quốc vương châu Âu bắt các kỹ sư chuyển nguyên các tượng đài Ai Cập về thủ đô của mình.
Bài toán này trải qua rất nhiều thông số: thể tích, khối lượng, cần bao nhiêu xe tải, bao nhiêu người làm việc mỗi ngày... Nếu chúng ta thử nghiệm phương pháp không kém phần thiếu thực tế là huy động 6 tỉ người sống trên trái đất cùng tham gia (và cung cấp cho họ đủ dụng cụ và sắp xếp sao cho mọi người không cản trở công việc của nhau) thì có thể dịch chuyển núi Phú Sĩ trong hai ngày. Cứ cho là Chính phủ Nhật quyết định dịch chuyển núi Phú Sĩ và huy động được một nguồn lực to lớn để thực hiện nhiệm vụ này với 10.000 nhân công, họ cần phải thực hiện nhiệm vụ này trong 1 triệu ngày, hay khoảng 3.000 năm.
Nhiều câu hỏi sẽ không bao giờ có câu trả lời chính xác, song cách bạn suy nghĩ, tính toán, đưa ra phương án, người ta sẽ biết bạn là người đủ thông minh hay không, có làm được gì cho tương lai hay không, có khát vọng hay không…
Công ty Lehman Brothers đã trở nên nổi tiếng nhờ vào lời đề nghị các ứng viên mở cửa sổ. Yêu cầu này được đưa ra cũng bình thường như việc người phỏng vấn xin lỗi đi ra ngoài vì có điện thoại ở phòng bên cạnh. Vấn đề là Công ty Lehman Brothers tổ chức buổi phỏng vấn này ở một văn phòng nằm trong tòa nhà chọc trời, nơi cửa sổ không mở được! Goldman Sachs đã sử dụng câu đố yêu cầu cân tám viên bi để tìm ra một viên nặng hơn trong số đó.
Còn Công ty Smith Barney thì hỏi ứng viên phải làm thế nào để đong được 4 gallon nước bằng hai chiếc bình có dung tích 3 gallon và 5 gallon. Câu hỏi “Tại sao các nắp cống trên đường có hình tròn mà không phải hình vuông?” và những câu hỏi không có câu trả lời chuẩn khác cũng hay được sử dụng.
Liệu bạn sẽ hỏi gì khi đối diện với câu hỏi tình huống “nát óc” này: Đối diện với bạn là hai cánh cửa. Một cửa dẫn đến địa điểm phỏng vấn, còn cửa thứ hai dẫn đến lối đi ra ngoài. Cạnh cửa có một người đang đứng. Người này có thể là nhân viên của công ty, nhưng cũng có thể là nhân viên của đối thủ cạnh tranh. Nhân viên của chúng tôi bao giờ cũng nói thật, còn nhân viên của công ty cạnh tranh luôn luôn nói dối. Bạn được phép đặt ra cho người này một câu hỏi để tìm ra cánh cửa dẫn đến địa điểm phỏng vấn.
Điên rồ và hà khắc
Công ty Development Dimensions International (DDI) khẳng định rằng họ đã giúp các công ty tuyển được 15 triệu nhân viên nhờ vào phương pháp gọi là “tuyển nhân viên dựa trên năng lực” mà công ty vẫn tự hào.
Một trong số những công ty sử dụng dịch vụ của DDI là Unisys. Những ứng viên vào các vị trí quản lý ở Unisys được yêu cầu dành ra một ngày để điều hành một công ty ảo có tên Pilot, Inc. Ứng viên được dẫn đến văn phòng giả định là của công ty này (thực chất là văn phòng của DDI) giống như anh ta/cô ta đã được tuyển vào vị trí điều hành và hôm nay là ngày làm việc đầu tiên của họ.
Ứng viên này ngồi xuống và bắt đầu giải quyết một lượng dồn dập các thư điện tử, điện thoại mỗi lúc một tăng... Các nhà tâm lý của DDI quan sát ứng viên qua màn hình vô tuyến để đánh giá xem họ thực hiện công việc thế nào. Người sáng lập DDI, William Byham, giải thích: “Chúng tôi đem tất cả mọi sự khủng hoảng mà người quản lý có thể gặp phải trong một năm và góp lại chỉ trong một ngày”.
Nhiều công ty có khuynh hướng “no dồn, đói góp”. Mọi người đã trải qua những cuộc phỏng vấn tuyển dụng “nát óc” nói chung thường ra về với một trong hai cảm giác sau: cuộc phỏng vấn thật là điên rồ, hoặc cuộc phỏng vấn này hà khắc.
Từ đây có thể suy ra rằng những cuộc phỏng vấn ở bất cứ công ty nào khác cũng sẽ điên rồ hơn và/hay hà khắc hơn. Người chịu trách nhiệm tuyển nhân sự của Công ty Blair Television (một hãng ở New York chuyên bán các chương trình quảng cáo trên vô tuyến) tăng thêm gia vị cho cuộc phỏng vấn của mình bằng cách giả vờ tìm kiếm thứ gì đó trong ngăn kéo rồi lấy ra một quả lựu đạn. “Nếu anh/chị giỏi như vậy - bà nói với các nhân viên bán hàng tương lai - thì hãy thử bán cho tôi vật này đi”.
Đối với những người thiếu kinh nghiệm trả lời phỏng vấn thì phương pháp của Zefer Corp. được ưa chuộng hơn cả. Ứng viên được giao cho một bộ xếp hình Lego và anh ta/cô ta có năm phút để lắp ráp thành một cái gì đó. Đó là phần A của cuộc phỏng vấn. Phần B là “Hãy giải thích anh/chị vừa xếp hình gì”. Susan Perry, “phó chủ tịch tìm kiếm nhân tài” của Zefer, luôn khẳng định rằng bài trắc nghiệm Lego “đã gợi mở những cuộc đàm thoại thú vị và tiết lộ bản chất của ứng viên, điều luôn kích thích sự tò mò và thách thức nhà tuyển dụng”.
Đến với Wall Street, bạn đừng ngạc nhiên khi có nhiều công ty hỏi các ứng viên câu hỏi thiết kế phòng... toilet, chỉ khác nhau ở chỗ thay đổi giới tính và đặc điểm của nhân vật chính. Ví dụ có công ty đã hỏi: "Bạn có thể đưa ra thiết kế phòng vệ sinh như thế nào dành cho một phu nhân giàu có nặng 150kg?". Hoặc bạn cũng đừng e ngại mà hãy bình tĩnh và sáng suốt khi đối diện với câu hỏi "điên khùng" như thế này: Bạn có thể đưa ra mẫu thiết kế như thế nào dành cho phòng vệ sinh của Bill Gates? Trong trường hợp này, trí tưởng tượng của bạn phải phát huy, hãy hình dung rằng bạn ngồi cùng Bill Gates và nghe ông ta nói về ước mơ của mình trong việc sở hữu một phòng vệ sinh lý tưởng…
Con người từ lâu đã có ước mơ về trí tuệ nhân tạo, về những máy móc được lập trình để suy nghĩ, nhận định và giải quyết vấn đề giống như con người. Muốn làm được điều đó, con người phải nghiên cứu một điều quan trọng: con người suy nghĩ để giải quyết vấn đề như thế nào. Một cuộc vật lộn với robot đã diễn ra…
Kỳ 4: Trí tuệ nhân tạo
TT - Đối diện với những vấn đề hóc búa, những trường hợp chưa biết, bạn phải làm thế nào để có thể giải được chúng? Con người từ lâu đã muốn trả lời câu hỏi này.
Xét từ một góc độ nào đó thì đây là vấn đề mấu chốt của việc nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI - artificial intelligence).
Mọi con đường đều dẫn đến lời giải
Bill Gates và gần như tất cả đồng nghiệp của ông đã trưởng thành từ ước mơ về trí tuệ nhân tạo (còn gọi là trí thông minh nhân tạo), về những máy móc được lập trình để suy nghĩ, nhận định và giải quyết vấn đề giống như con người. Một trong những phương pháp truyền thống để tiếp cận AI bắt đầu từ việc nghiên cứu quá trình con người suy nghĩ để giải quyết các vấn đề như thế nào.
Herbert Simon (1916-2001) được xem là cha đẻ của các công trình nghiên cứu hiện đại chuyên về cách giải quyết vấn đề. Phần lớn sự nghiệp của người đàn ông tài ba này (đã đoạt giải Nobel kinh tế năm 1978) diễn ra tại Trường đại học Carnegie - Mellon, nơi có truyền thống nghiên cứu lĩnh vực máy tính và người máy.
Simon muốn khám phá cách giải quyết vấn đề của con người để từ đó nghiên cứu cách lập trình cho máy tính, nhằm mục đích biến máy tính thành công cụ có thể làm thay công việc của con người. Simon phát hiện sau vài lần thất bại thì phần lớn mọi người đều tìm được câu trả lời đúng, không bao giờ việc giải các câu hỏi hóc búa hay các phát minh khoa học lại là kết quả của một phút thăng hoa bất ngờ. Tất cả là nhờ “không gian giải pháp”.
Bạn phải tìm sách trong thư viện như thế nào nếu sách ở đây không được xếp theo danh mục? Thiền sư người Nhật Shin’ichi Hisamatsu nói rằng tất cả các công án (tên gọi các bài “toán đố” của phái thiền) có thể được rút gọn lại thành một công thức sau: “Không được phép làm gì cả. Vậy bạn làm gì?”.
Phương án được Microsoft đưa ra như sau: Không có khả năng có thể tìm thấy cuốn sách. Vậy bạn làm gì? Việc duy nhất mà bạn có thể làm là tìm trong “không gian giải pháp” một cách hiệu quả nhất trong chừng mực có thể. Bạn cần phải chuẩn bị tinh thần, đừng vội vã dừng lại ngay từ đầu (chẳng có gì đạt được mà không phải đổ mồ hôi sôi nước mắt cả). Đó cũng chính là điểm khác nhau giữa những người giải được các bài toán đố và những người không giải được.
Sau khi bước qua sự phân tích đầu tiên, bạn sẽ thấy bài toán trở nên đơn giản hơn rất nhiều lần so với hình dung ban đầu. Cây khả năng sẽ không phân nhánh một cách vô hạn và tất cả mọi con đường đều sẽ dẫn bạn đến với lời giải đúng. Gần như tất cả các câu hỏi hóc búa đều có chung một kết cục như vậy. Đối với phần lớn mọi người, các suy luận thường là khó nhưng đối với máy tính thì ngược lại, có những thuật toán hữu hiệu để tìm kiếm theo sơ đồ hình cây và “tìm nhánh” (như công cụ tìm kiếm trên mạng Internet Yahoo! hay Google).
Tại sao có thể đánh bại robot?
Chắc hẳn bạn cũng đã từng được xem các trận chiến giữa những người máy trên tivi. Con người chế tạo ra chúng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là phá hủy những người máy khác. Sau đó, chúng được đưa lên đấu trường để chúng ta theo dõi chuyện gì sẽ xảy ra. Những cuộc tranh tài như vậy ít ra cũng chứng minh được một điều: “phá hủy” người máy là điều quá đơn giản.
Mặt trời bao giờ cũng mọc ở hướng đông?
Câu trả lời là không đúng. Một số ứng viên đưa ra các ví dụ trong không gian vũ trụ. Sao Kim (Venus) và sao Thiên vương (Uranus) quay quanh trục và có chiều quay ngược với chiều quay của Trái đất. Nếu chúng ta đặt trong không gian một hành tinh tưởng tượng và không quay quanh quĩ đạo thì hoàn toàn không có hiện tượng Mặt trời mọc và lặn.
Người phỏng vấn không chấp nhận những câu trả lời tương tự như vậy và hỏi lại: “Có phải trên Trái đất bao giờ Mặt trời cũng mọc ở hướng đông?”. Câu trả lời cũng không có gì thay đổi, vẫn là không. Tại Bắc cực hoàn toàn không có hướng đông: tất cả các hướng đều chỉ về phía nam. Trong thời gian sáu tháng có Mặt trời, Mặt trời luôn mọc và lặn từ hướng nam. Còn ở Nam cực thì ngược lại. Ở đây các hướng đều chỉ về phương bắc.
Có thể có ích cho bạn: biết và nghĩ nhiều hơn về những gì bạn đã biết và đã nghĩ, nghĩ xa hơn những giới hạn xung quanh bạn, như thế sẽ có một con đường, dù con đường ấy không đưa bạn đến đích nhưng cũng có con đường, còn hơn không có con đường nào cả để đi.
Việc chiến thắng người máy nói chung là dễ dàng vì chúng chỉ hành động theo những gì mà chương trình đã lập sẵn. Người máy không nhìn thấy toàn bộ diễn biến của sự việc (không có tầm nhìn toàn cảnh) và không bao giờ có được những quyết định bất ngờ (những suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ).
Ví dụ, bạn có một người máy có đặc tính tự bảo vệ mình bằng súng phun lửa. Chỉ cần những người máy khác lọt vào bán kính 3m xung quanh nó, lập tức súng phun lửa sẽ hoạt động và mục tiêu chắc chắn là bị phá hủy. Để có thể chiến thắng loại người máy này, chỉ cần chế tạo một người máy khác có khả năng phun xăng vào đối tượng cách nó 3,5m sau đó lập tức chạy ra xa, người máy của chúng ta sẽ phát lửa vào đối thủ và đồng thời tự hủy diệt mình.
Trong khi nếu là con người ở trường hợp đó, hiển nhiên chúng ta sẽ nghĩ rằng “người mình đẫm xăng thế này thì dại gì lại sử dụng súng phát hỏa cơ chứ”. Nhưng với người máy thì không, nó không “thông minh” để có khả năng suy luận như con người. Đây là một trong những vấn đề khó nhất của AI.
Khi mà người máy bất khả chiến bại của bạn vừa bị hạ gục và chỉ còn là một đống kim loại bỏ đi, phản ứng tự động của bạn sẽ là cố gắng tìm cách chế tạo một người máy mới tốt hơn, với những tính toán kỹ càng hơn sao cho sản phẩm này có khả năng nhận biết các yếu tố của môi trường xung quanh, đồng thời biết “suy ngẫm”, dự tính về những diễn biến, hậu quả có thể xảy ra trong hành động của mình. Đây là những mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trong thế giới mã máy tính và những con chip, để thực hiện được điều đó cần phải có một sự nỗ lực khủng khiếp.
Việc mở rộng khả năng bao quát của người máy đòi hỏi khối lượng tính toán của bộ óc nhân tạo phải tăng theo cấp số mũ. Càng phải dự tính được nhiều hậu quả xảy ra sau mỗi hành động của mình thì người máy càng có những phản ứng chậm chạp. Và có lẽ chẳng có gì tồi tệ hơn một người máy chậm chạp.
Nói chung, loài người “đóng khung” các vấn đề tốt hơn hệ thống trí tuệ nhân tạo tân thời. Bằng cảm tính của bản năng, chúng ta hiểu được điều gì là quan trọng và điều gì không quan trọng đối với mỗi trường hợp mà chúng ta gặp phải, mặc dù cảm tính đó cũng có lúc sai. Để có thể dễ dàng giải các bài toán đố, bạn phải đồng thời suy nghĩ theo ít nhất hai hướng. Hướng thứ nhất để giải bài toán, hướng thứ hai là theo dõi khả năng thành công của hướng thứ nhất.
Bạn cần phải liên tục tự đặt câu hỏi cho bản thân: Liệu cách giải quyết này có đúng không? Còn phải mất bao nhiêu thời gian nữa và khả năng mình đang đi đúng hướng là bao nhiêu phần trăm? Liệu có nên thử thêm cách khác nữa không? Khả năng tự nhận thức cao là đặc điểm của những người luôn tìm được câu trả lời đúng cho các bài toán đố. Bạn cũng có thể nhận thấy đặc điểm đó cả ở những người thành công khi đi phỏng vấn tuyển dụng, vì đối với họ việc quan trọng không những là phải trả lời đúng các câu hỏi mà còn là hiểu như thế nào, vấn đề cần được xem xét đến đâu.
Bill Gates khẳng định không có bất cứ một tập đoàn nào có thể vĩnh viễn giữ được vị trí dẫn đầu của mình khi chuẩn mực công nghệ luôn biến đổi. Chính vì vậy, tập đoàn khổng lồ và thành công Microsoft luôn ở trong trạng thái bị các đối thủ mới ra đời đe dọa. Bill Gates nói rằng mục đích của ông là làm cho Microsoft đi ngược lại với qui luật trên và tiếp tục phát triển, mặc cho sự thay đổi chuẩn mực công nghệ đang diễn ra liên tiếp.
Có bao nhiêu người lên dây đàn dương cầm trên thế giới? Ở Manhattan, bạn phải giở ngẫu nhiên bao nhiêu trang trong danh bạ điện thoại để có số điện thoại cần tìm?... Trong một nền “văn hóa toán đố”, những câu hỏi như đều có lời giải. Các công ty muốn tuyển dụng đúng người tài đều đặt yếu tố sáng tạo và cách giải quyết vấn đề lên hàng đầu.
Kỳ 5: Vượt qua khó khăn
TT - Những người phỏng vấn tuyển lựa người tài đánh giá rất cao những câu trả lời thông minh và độc đáo. Bạn có biết một số người khờ khạo đã cố gắng gửi đến nhà tuyển dụng những bản sơ yếu lý lịch hết sức độc đáo để mong gây được sự chú ý? Hành động đó rất hiếm khi phát huy tác dụng, nhưng trong lúc phỏng vấn, một câu trả lời tốt mang tính sáng tạo sẽ làm cho ứng viên trở nên nổi bật.
Nguyên tắc "Không gây hại" của Hippocrates được Microsoft dùng làm nguyên tắc chủ yếu để tuyển dụng nhân tài
Nguyên tắc Hippocrates
Joel Spolsky - tổng giám đốc Hãng Fog Creek Software tại News York - cho rằng phương pháp tuyển nhân sự phải được xây dựng nhằm phát hiện được ra hai loại người: thứ nhất là loại người thông minh nhưng không thành công, thứ hai là thành công nhưng không thông minh. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực cạnh tranh cao cần phải tránh tuyển dụng cả hai dạng người này.
“Những người thông minh nhưng không thành công thường có bằng cấp tiến sĩ, làm việc tại các công ty lớn, nhưng ở đó chẳng ai biết đến tên tuổi của anh ta chỉ bởi họ là những người hoàn toàn không thực tế” - Spolsky giải thích - Còn những người thành công nhưng không thông minh thường dễ phạm phải những sai lầm ngu ngốc để rồi sau đó người khác sẽ phải chỉnh sửa sai lầm cho họ”. Hai loại người này rất dễ lầm với loại người thứ ba rất cần cho các công ty: đó là vừa thông minh vừa thành công.
Sau khi động não để tìm cách giải quyết một vấn đề phức tạp, ứng viên tham gia một cuộc tuyển lựa người tài cần phải lựa chọn được một ý tưởng tối ưu. Đây cũng chính là lúc có thể kiểm tra óc phán đoán của ứng viên. Tiếp đó ứng viên phải đi sâu vào một số tiểu tiết cũng như phát triển các lập luận cần thiết để biến ý tưởng đã chọn thành câu trả lời hoàn chỉnh. Điều quan trọng là phải bổ khuyết được tất cả các chỗ yếu và giải quyết được tất cả các mâu thuẫn chính. “Những ứng viên xuất sắc thường có khả năng tiến lên phía trước, thậm chí ngay cả khi bạn cố tình cản trở họ” - Spolsky nói.
Vậy bạn phải chuẩn bị như thế nào để vượt qua những trắc nghiệm “nát óc”? Sau đây là những gợi ý cho bạn:
- Trước tiên hãy xác định xem người ta đang mong đợi câu trả lời thuộc dạng nào (độc thoại hay đối thoại).
- Lời giải đầu tiên hiện ra trong đầu thường sai.
- Những câu hỏi dài, phức tạp thường có câu trả lời đơn giản.
- Những câu hỏi đơn giản luôn đòi hỏi câu trả lời phức tạp.
- Nếu bị rơi vào tình trạng bế tắc, hãy thử liệt kê tất cả các giả thiết bạn có được. Hãy suy nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra khi bạn lần lượt loại bỏ từng giả thiết đó.
Người ta thường nhắc đến “vở kịch ba màn” của Microsoft trong quá trình tuyển lựa nhân viên. Màn thứ nhất chỉ đơn thuần là việc phỏng vấn tuyển lựa sơ bộ qua điện thoại. Trong cuộc phỏng vấn mở màn này, ứng viên thường gặp phải những câu hỏi truyền thống, còn những bài toán đố rất ít khi được áp dụng ở đây.
Những câu trả lời qua điện thoại của ứng viên sẽ giúp nhà tuyển dụng ra quyết định liệu có nên mời ứng viên đến trụ sở chính của Microsoft ở Redmond (bang Washington, Mỹ) hoặc ở những nơi khác để tham dự các màn tiếp theo của “vở kịch” hay không. “Vở kịch” phỏng vấn tiếp theo thường kéo dài cả một ngày. Trong quá trình phỏng vấn, nhân viên tuyển nhân sự của Microsoft thường bí mật trao đổi ý kiến với nhau thông qua thư điện tử hoặc các cách khác mà họ qui ước với nhau.
Nguyên tắc chủ yếu của Microsoft trong khâu phỏng vấn tuyển dụng rất giống với nguyên tắc nổi tiếng của Hippocrates là “không gây hại”. Mục đích trước hết của tập đoàn là ngăn chặn mọi khả năng tuyển nhầm phải những ứng viên tồi, thậm chí nếu điều này đôi khi có thể đồng nghĩa với việc để vuột mất những ứng viên phù hợp. Chính vì nguyên tắc này mà rất ít khi nhân viên Microsoft phải thôi việc. “Món quà tốt nhất dành tặng cho các đối thủ cạnh tranh của chúng ta chính là các quyết định tuyển nhân sự sai lầm”, David Pritchard, giám đốc bộ phận tuyển dụng của Microsoft, nói.
Đối diện những “vở kịch”
Hẳn nhiên là các ứng viên khi đến dự phỏng vấn ở Microsoft đều không thể biết rằng các "màn diễn" tình huống thường xuyên xảy ra. Tình huống này cũng xuất hiện trong danh sách dài ngoằng những lời khuyên dành cho ứng viên chuẩn bị phỏng vấn ở Microsoft trên trang web của tập đoàn: nếu trong tiến trình phỏng vấn, bạn có ý nghĩ muốn đánh giá xem việc trả lời của mình diễn ra có thuận lợi hay không thì hãy cố quên nó đi.
Đừng thất vọng nếu bạn trả lời không đúng một câu hỏi nào đó, có thể cảm giác của bạn khác với sự thật. (Chuyện này vẫn thường xảy ra trong các cuộc thi, khi mà bạn cảm thấy mình đang làm sai bét nhưng thực tế lại không hẳn vậy, hoặc ngược lại). Đừng đánh mất bản thân, những ứng viên như vậy mới chính là những người mà chúng tôi cần.
Một ứng viên vốn được mô tả như là một “tay chơi” sành sỏi đã len lỏi qua được tất cả những vòng phỏng vấn sơ bộ và lọt vào cuộc phỏng vấn cuối cùng, và người phỏng vấn chính là Karen Fries. Cô gái này là một nhân vật quan trọng của Tập đoàn Microsoft, là người đã phát minh ra cái món “wizards” trong các phần mềm của Microsoft chuyên gợi ý, trợ giúp người sử dụng máy tính thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Có bao nhiêu trạm xăng ở Mỹ và những nơi khác? Bài toán "nát óc" nhưng vẫn giải được
Fries là một phụ nữ rất hấp dẫn. Chàng thanh niên kia khi nhìn thấy Fries lại nghĩ rằng tất cả những cuộc phỏng vấn quan trọng đã qua và đây là “phần thưởng” dành cho những câu trả lời xuất sắc, và “cô thư ký” này được cử đến chỉ để nói chuyện phiếm với anh.
Cuối cùng, trong thư điện tử gửi cho các đồng nghiệp, Fries nhận xét về ứng viên đó độc địa đến nỗi cho đến tận bây giờ nó vẫn là ví dụ điển hình ở tập đoàn này, nơi không thiếu những lời xỏ xiên, độc địa được dùng để đánh giá và nhận xét người khác. Chàng thanh niên “xuất sắc” đó đã không được nhận vào làm việc.
Rất khó tìm được lời giải đáp khôn khéo, đầy đủ cho những câu hỏi “không hợp lý lắm” dưới áp lực căng thẳng. Áp lực công kích trong cuộc họp báo vào tháng 3-1998 đã buộc chính Bill Gates phải “lớn tiếng phẫn nộ và tỏ ý khinh bỉ những người đã tỏ ra nghi ngờ hoạt động kinh doanh của ông”.
Tờ Washington Post thuật lại: “Ông đã bỏ qua không trả lời một câu hỏi mà ông cho là “không công bằng” và một câu khác vì “không trung thực”. “Thôi đủ rồi!” - ông sốt ruột ngắt lời một nhà báo. “Cho tôi thở một chút!”, giây lát sau ông lại nói với một nhà báo khác”. Rất nhiều ứng viên có cảm giác y như thế khi tham gia cuộc phỏng vấn tuyển dụng. Dù thích hay không bạn vẫn có thể sẽ phải đối diện với những câu hỏi đầy mưu mẹo và không dễ trả lời ở lần phỏng vấn tiếp theo.
Có bao nhiêu trạm xăng ở nước Mỹ? Câu hỏi này quả là khó nhưng không phải là không thể trả lời. Đáp số của bài toán này giúp để tính số lượng trạm xăng ở Mỹ và ở những nơi khác. Trung bình mỗi người dân Mỹ có một ôtô? Không đúng. Hai người một cái? Con số này chắc gần đúng hơn.
Vậy nếu dân số Mỹ là 300 triệu, tức nước Mỹ có khoảng 150 triệu ôtô, trung bình một ôtô cần phải đổ xăng một lần trong tuần. Vì vậy, trong một tuần tất cả các trạm xăng phải phục vụ số ôtô đúng bằng tổng số xe trong nước. Số giờ trong một tuần là 24x7, nhưng không phải tất cả các trạm xăng đều làm việc 24 giờ trong tuần.
Giả sử trung bình một trạm xăng làm việc 100 giờ/tuần, nếu đổ xăng cho một xe mất 6 phút tức mỗi máy bơm ở trạm xăng trong một giờ có thể phục vụ 10 ôtô. Những trạm xăng lớn ở những chỗ đông dân có thể đặt nhiều máy bơm và ngược lại có những trạm xăng rất ít khách, giả sử trung bình mỗi trạm xăng một giờ phục vụ 10 ôtô. Vậy trung bình một tuần, một trạm phục vụ 100x10 lần, hay 1.000 ôtô. Có nghĩa số trạm xăng ở nước Mỹ bằng 150 triệu/1.000 = 150.000. Kết quả của sự đánh giá này gần sát với sự thật.
Joel Spolsky động viên những người có khả năng rằng nhà tuyển dụng luôn biết cách khuyến khích bạn vượt qua những khó khăn, vấn đề là bạn có kích hoạt bộ não của bạn sáng tạo hay không.
“Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện, hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh” - Bill Gates viết trong cuốn sách Kinh doanh và tốc độ tư duy như thế? Chúng ta phải làm sao?
Kỳ cuối: Kích thích bộ não sáng tạo
TT - Giống như những vận động viên leo núi, họ trèo lên đỉnh núi là để tìm kiếm lời giải cho những bài toán hóc búa về chinh phục đỉnh cao. Và chỉ khi đạt tới đỉnh, họ mới tìm thấy nó. Tuy nhiên, hết đỉnh cao này rồi lại đến đỉnh cao khác, con đường vươn tới sáng tạo không ngơi nghỉ.
Bill Gates viết trong cuốn sách này: "Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh". Vậy phải làm sao?
“Văn hóa toán đố”
Bill Gates chưa bao giờ mất đi hứng thú đối với các bài toán đố. Không hiếm các buổi tối, Bill và vợ Melinda ở nhà chơi trò lắp hình làm từ những mảnh gỗ. Gia đình Bill thường mua hai bộ giống nhau và thi xem ai là người xếp xong trước. Trong bữa ăn tối, khi đang chờ người phục vụ đưa lên món tiếp theo, Bill hay đề nghị mọi người vẽ bản đồ nước Mỹ lên giấy ăn, người chiến thắng là người vẽ chính xác nhất.
Năm 1986, Bill Gates mua một quần thể gồm bốn nhà nghỉ nằm trên bờ biển Hood Canal ở vịnh Puget. Gia đình Bill và những nhân viên của Microsoft thường chơi “trò chơi vi mô” - một cuộc thi độc đáo và kỳ lạ, những người chiến thắng được đánh giá rất cao.
Trong trò “Chúng ta hát”, sau khi ai đó xướng lên một từ, mọi người phải hát bài hát trong đó có từ đó. Một lần, từ đưa ra là “biển”, đang chơi thì Bill đi ra bãi biển, một lúc sau mọi người nghe thấy từ trong bóng tối vang ra một giọng hát quen thuộc: “Từ biển xuất hiện một con rồng thần thoại...”.
Khi nhân viên của Microsoft đi công tác, họ có rất ít thời gian để thăm danh lam thắng cảnh, Microsoft luôn tổ chức sao cho mọi người luôn ở bên nhau và chơi các trò chơi có tính cạnh tranh quyết liệt. Khát vọng chiến thắng là đặc tính chung của tất cả mọi người trong Tập đoàn Microsoft. Để giành chiến thắng, Microsoft không dừng bước trước bất cứ một vật cản nào. Phương châm của Microsoft là “hành động quyết liệt”,”tiến hành các cuộc chiến cảm tử”, “chặn nguồn oxy” của các đối thủ cạnh tranh.
Một trong những khái niệm mà các nhân viên Microsoft thường dùng để tả về tập đoàn của mình là “trại toán học”. Lòng khao khát vượt lên trên thể hiện rõ nét trong những câu đố, các trò chơi đùa giải trí rất thông dụng ở Microsoft. Nghịch lý ở chỗ, các trò giải trí đáng ra là để nghỉ ngơi và giải tỏa căng thẳng thì lại trở thành điều gây áp lực nhất.
“Đế chế” của Microsoft tại Redmond (bang Washington, Mỹ) là một quần thể bao gồm 82 tòa nhà, rộng gấp chín lần Viện bảo tàng Louvre, tương đương diện tích của Lầu Năm Góc. Tại đây có cả bộ phận vận tải, thư viện, xưởng phim, bảo tàng, cửa hàng, sân đá bóng và bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật. Nhân viên được tự do hoàn toàn về mặt thời gian, chỉ cần họ làm tốt công việc của mình. Những điều đối với các công ty khác bị coi là kỳ quặc và không được phép thì ở đây hoàn toàn là có thể.
Như một người chinh phục đỉnh cao vẫn luôn nhìn về đỉnh cao khác, sự sáng tạo của bộ não không bao giờ có giới hạn.
Hãy luôn trong trạng thái bị đói
Phong cách phóng khoáng ngụy tạo này là đặc điểm chung của tất cả những người làm việc trong ngành công nghiệp phần mềm chứ không riêng gì ở Microsoft, nhưng nếu so sánh Microsoft với các công ty công nghệ cao khác thì Microsoft vẫn kỳ quái hơn nhiều. Nhân viên Microsoft bay trên những chuyến bay bình thường, nghỉ ngơi ở những khách sạn được xếp vào loại tốt nhưng không quá xa xỉ. Tập đoàn không có phòng ăn trưa dành riêng cho lãnh đạo cao cấp.
Gần như phòng làm việc của mọi nhân viên đều có kích thước 3x4m, bên trong được trang bị bằng loại gỗ không đắt tiền. Phòng làm việc của Bill Gates rộng hơn, nhưng những phóng viên đã từng có mặt ở đây đều nhận xét rằng chỗ làm việc của nhà sáng lập ra Microsoft rất bình thường, không đá hoa cương và chẳng có gì đặc biệt cả. Nhân viên Microsoft thường nói tập đoàn này là nơi bạn phải trồng cây rồi mới mong được hái quả.
Cuốn sách Inside out (Mặt trái) xuất bản nhân dịp 25 năm thành lập Microsoft đã có đoạn minh họa rõ nét về chính sách tiết kiệm này: “Để phòng xa, xin nhắc lại một điểm quan trọng có thể giúp chúng ta lúc nào cũng giữ vững vị trí tiên phong: hãy cố gắng đừng “béo phì” mà “hãy nên ở trong trạng thái đói”. Khó khăn và thiếu thốn thường nảy sinh sáng tạo”. Trong cuốn sách này bạn có thể tìm được câu châm ngôn ngắn gọn hơn: “Sự thừa thãi sẽ cản trở thành công”.
Một trong những chủ đề bàn luận thường xuyên của những lãnh đạo cao cấp ở Microsoft là khả năng diệt vong của tập đoàn. Bill Gates nghiêm khắc cảnh báo trong lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Microsoft: “Nếu chúng ta có những quyết định sai lầm thì tất cả những gì chúng ta tạo ra được trong 25 năm qua sẽ tan thành mây khói”.
“Một lúc nào đấy sẽ có ai đó bất ngờ theo kịp được chúng ta”, Bill viết trong cuốn sách Business@ the speed of thought (Kinh doanh và tốc độ tư duy), “Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh”. Đây không chỉ là sự e ngại của một mình Bill. Steve Ballmer - đồng sự của Bill - viết: “Đối thủ cạnh tranh mới của chúng ta có thể xuất hiện bất ngờ từ “hư vô” và chỉ trong một đêm đánh gục chúng ta”. Hoặc Jeff Raikes: “Nếu như chúng ta không luôn có những quyết định mới theo kịp nhu cầu của người tiêu dùng dựa vào những công nghệ tiên tiến nhất, thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể bị loại bỏ khỏi môi trường kinh doanh”.
Người ngoài cuộc có thể cười khẩy khi nghe vậy. Microsoft là một quả bóng bơm hơi quá lớn. Cho dù nếu như có ai đó dám chọc một lỗ vào quả bóng thì cũng phải rất lâu sau quả bóng mới xì hết hơi. Mặc dù vậy, trên quan điểm lịch sử phát triển thì những gì mà Bill và Steve Ballmer nói là hoàn toàn có lý. Thông thường các công ty khó mà có thể giữ lâu được vị trí quán quân của mình, đặc biệt những công ty sống bằng công nghệ tân tiến sẽ tiêu vong nếu không kịp thời phản ứng trước sự thay đổi của công nghệ.
Chiến thắng hay chiến bại?
Những từ như “sáng tạo” và “tân tiến” là những khái niệm rất quan trọng đối với Microsoft. Mức độ sáng tạo của Microsoft, giống như ở bất cứ một công ty nào khác, phụ thuộc trước tiên vào khả năng sáng tạo và đổi mới của những nhân viên làm việc tại đây. Tập đoàn Microsoft biết rất rõ họ cần thu hút những người như thế nào và họ đủ tiềm lực vật chất để làm được điều này, mục tiêu là kích hoạt bộ não từng nhân viên sáng tạo.
Phương châm chính của Microsoft trong việc tuyển nhân sự là tìm được những “phiên bản của Bill”. Đây là ngôn ngữ lóng của Microsoft chỉ những người trẻ tuổi thông minh, khao khát vươn lên và đầy tham vọng nhưng lại chưa có kinh nghiệm thực tế, giống như Bill Gates trước đây. Các nhân viên tuyển nhân sự của Microsoft tự hào rằng không có ai xuất sắc hơn họ trong việc tìm được những người rất có tiềm năng, chứ không chỉ những người đã chứng tỏ được khả năng trong chuyên ngành của mình.
Trên quan điểm của Microsoft, các câu hỏi hóc búa không những chỉ kiểm tra được trí tuệ mà còn cả động cơ và ham muốn vươn lên của ứng viên. Cũng giống như kinh doanh hay thể thao, việc giải các bài toán đố có thể chia mọi người ra làm hai loại: chiến thắng và chiến bại. Chỉ có hai khả năng, bạn có thể tìm ra lời giải hoặc không.
Bất cứ một huấn luyện viên thể thao nào cũng có thể khẳng định với bạn rằng để giành được chiến thắng thì chỉ có khả năng thôi chưa đủ, bạn còn cần phải trở thành một kẻ “háu đói” ham muốn chiến thắng. Có cảm giác rằng những người biết cách giải những bài toán đố không những có trí tuệ cao mà còn chứa trong mình động lực sẵn sàng giải quyết tất cả những vấn đề đang thách thức họ. Bằng cách đó, họ đã kích thích bộ não sáng tạo và những thành quả của họ tạo ra từ đó.
From Another Resource!
Cần bao nhiêu thời gian để có thể dịch chuyển núi Phú Sĩ? Tại sao hai đầu lon bia lại hơi nhỏ lại? Có phải lúc nào mặt trời cũng mọc ở hướng đông?... Những câu hỏi không ai biết đáp án chính xác là gì như thế đang được các tập đoàn hàng đầu thế giới áp dụng khi tuyển dụng người tài, chọn đúng người cho tương lai.
Năng lực trí tuệ, sự sáng tạo và cách nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ được xem là những đặc tính cần thiết để tồn tại trên thương trường đầy cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Con nhân sư và Microsoft
TT - Trong các trò chơi điện tử, bạn liên tục gặp phải những đối thủ lạ lùng luôn tìm cách tấn công bạn. Để được lên bậc cao hơn, bạn cần phải chiến thắng và giải quyết được một vấn đề hoặc một câu hỏi nào đó.
Rất ít người đạt được đến trình độ cao nhất. Trò chơi này chính là sự nâng cấp của câu chuyện thần thoại Hi Lạp về con nhân sư và chàng Oedipus. Con nhân sư sẽ ăn tươi nuốt sống bất cứ ai không giải được câu đố “Con gì sáng đi bốn chân, trưa đi hai chân, chiều đi ba chân?”. Oedipus giải được câu đố của nhân sư. Đó là con người.
Thử thách bằng câu đố
Câu chuyện về con nhân sư cho đến nay vẫn còn đọng lại một điều gì đó để suy ngẫm. Huyền thoại về những người chứng minh được lòng quả cảm bằng cách bắt tay vào giải đáp các câu đố khó vẫn thường xuất hiện trong mọi nền văn hóa trên khắp thế giới.
Việc thử thách bằng các câu hỏi hóc búa có lẽ đã được các thiền sư Nhật Bản nâng tới đỉnh cao nghệ thuật. Một lần, thiền sư Shuzan giơ cây gậy ngắn lên và nói với một môn đệ của mình như sau: “Nếu ngươi gọi nó là đoản trượng, ngươi phản thực tại. Nếu ngươi không gọi nó là đoản trượng, ngươi phản chứng cớ. Bây giờ ngươi gọi nó là cái gì nào?”. Các bạn hãy nhớ, theo truyền thống của Thiền tông, mỗi câu trả lời không đúng bạn sẽ bị chính cái gậy này quật mạnh vào đầu.
Top ten của top ten
Có thể xem Microsoft là vương quốc của nhân tài trên cơ sở bình đẳng. Tập đoàn máy tính này kiên quyết chỉ tuyển dụng những người thuộc nhóm “10% tốt nhất trong số 10% những người xuất sắc nhất”, hay còn gọi là “top ten của top ten”. Những cuộc phỏng vấn của Microsoft được tiến hành cẩn thận nhằm lọc đi những người “vừa vặn đủ năng lực” - nghĩa là những người không đạt tới mức yêu cầu của hãng về động lực cạnh tranh cũng như khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Giống như con nhân sư, bộ phận tuyển nhân sự của Microsoft để lại vô số ứng viên đã gục ngã.
Microsoft đã áp dụng ý tưởng “thử thách bằng câu đố” của người xưa vào cuộc sống ngày nay. Khi dùng chúng để lựa chọn nhân viên, Microsoft đã nhắm tới khía cạnh hấp dẫn hơn của thế hệ sinh ra trong thời đại kỹ thuật số - khái niệm về sự độc lập trong suy nghĩ, thái độ biết nghi ngờ trước những giá trị đã được thiết lập.
Microsoft là một chốn can qua, minh chứng đồng thời cho những đặc tính tốt nhất cũng như dở nhất của cộng đồng nước Mỹ. Hãng phần mềm do Bill Gates và Paul Allen sáng lập nên là một trong những câu chuyện thành công nhất thế giới trong 25 năm cuối cùng của thế kỷ 20.
Sự cáo buộc của Bộ Tư pháp Mỹ đối với Microsoft liên quan đến việc vi phạm luật chống độc quyền cũng không làm giảm đi uy tín của hãng. Thậm chí ngược lại: Microsoft ngày nay bị mang tiếng xấu nhưng ai cũng biết rằng trong cái rủi có cái may. Người ta vẫn nghi ngại về Microsoft, và họ cũng lại cho rằng nếu hãng máy tính này sử dụng cách thức tuyển dụng đó, có thể xét ở khía cạnh đạo đức học thì quá lố, song chắc hẳn nó phải đem lại hiệu quả.
Với việc thư giới thiệu ngày càng ít phổ cập và ít tác dụng, nhà tuyển dụng sẽ phải tìm đến những nguồn thông tin khác. Phỏng vấn là một trong những phương pháp trực tiếp hữu hiệu nhất để đánh giá ứng viên. Các chuyên gia nhân sự phân loại câu hỏi phỏng vấn thành hai dạng: dạng “truyền thống” và dạng “hành vi”.
Câu hỏi truyền thống bao gồm tất cả các khuôn mẫu cũ mà bất cứ một công dân Mỹ nào khi đi tìm việc đều thuộc nằm lòng: “Bạn muốn mình sẽ trở thành người thế nào sau năm năm nữa? Bạn thường làm gì trong các ngày nghỉ? Hãy cho biết tên cuốn sách cuối cùng bạn đã đọc? Bạn tự hào điều gì nhất ở bản thân?”.
Xem chừng các câu hỏi này là về tính trung thực. Nhưng suy cho cùng, chúng mang tính ngoại giao. Chính điều này dẫn đến sự phát triển các câu hỏi hành vi. Một ví dụ được Microsoft sử dụng: “Bạn hãy kể lại một tình huống khó khăn mà bạn đã gặp phải trong cuộc sống và đã giải quyết nó một cách tốt đẹp”. Ví dụ khác: “Hãy kể lại một trường hợp bạn không đủ thời gian cho công việc cần phải kết thúc vào một thời hạn đã định”.
Ưu điểm của những câu hỏi hành vi so với những câu hỏi truyền thống là ở chỗ bịa ra cả một câu chuyện thì bao giờ cũng khó hơn một câu đáp ngắn. Nhưng đáng tiếc rằng cả câu hỏi truyền thống lẫn câu hỏi hành vi đều không thể thay đổi được hai giây nhìn nhận ban đầu của người phỏng vấn, không chứng tỏ rõ ràng là cách thức hữu hiệu cho các buổi phỏng vấn tuyển dụng nhân sự với quĩ thời gian luôn eo hẹp.
Lấy tương lai làm định hướng
“Điều quan trọng nhất mà chúng tôi phải làm là tuyển chọn được người tài vào làm việc” - đó là thông điệp mà ông Steve Ballmer, tổng giám đốc của Tập đoàn Microsoft, thường nhắc đi nhắc lại. Nhưng làm thế nào để có thể phát hiện những người tài? Ngày nay thật khó đánh đồng tài năng với một tập hợp các kỹ năng đặc trưng. Kỹ năng có thể trở nên vô dụng vào ngày hôm sau.
Microsoft hiểu rõ rằng họ cần tìm được những người có tài năng làm việc cho mình - những người có khả năng tạo ra một Microsoft với vị thế mới trong tương lai năm hay mười năm sau. Microsoft lấy tương lai làm định hướng trong việc tuyển nhân viên.
Ở mức độ cao hơn bất cứ một tập đoàn lớn nào khác, Microsoft nhìn nhận ứng viên xin việc như những “tờ giấy trắng”. Quan điểm của hãng là nhận người vì những công việc họ có thể làm trong tương lai chứ không phải vì những việc họ đã làm được trong quá khứ.
Cũng bởi lập trình được coi là chuyên ngành của những người trẻ tuổi mà Microsoft đã đón nhận một số lượng lớn các sinh viên mới tốt nghiệp vào làm việc. Vì vậy kinh nghiệm làm việc không phải là tiêu chuẩn bắt buộc trong các quyết định tuyển dụng. Hãng này không quan tâm lắm đến việc ứng viên đã tốt nghiệp trường đại học nào, có bằng cấp gì.
“Chúng tôi hiểu rất rõ uy tín ảo của các trường đại học” - một trong số những nhân viên điều hành cao cấp của tập đoàn tuyên bố. Thật ra, tình hình này đã có ít nhiều thay đổi, và Bill Gates - người từng bỏ dở việc học hành tại Trường ĐH Harvard - đã bắt đầu khuyến khích các ứng viên muốn vào làm việc ở đây nên có bằng cấp tử tế. Tuy nhiên Microsoft chưa bao giờ nhận người vào làm việc chỉ vì họ đã tốt nghiệp đại học.
Microsoft cũng là một tập đoàn có tư tưởng nước lớn. Nhân viên của Microsoft ở Redmond ngầm cho rằng các đối thủ cạnh tranh khác như Sun, Oracle, IBM cũng như tất cả các hãng còn lại chỉ là địa chỉ đầu quân của những kẻ thất bại, lười biếng và dốt nát - tóm lại là những kẻ “trượt vỏ chuối” trong các kỳ tuyển dụng vào Microsoft.
Kinh nghiệm làm việc duy nhất được thừa nhận - đó là kinh nghiệm làm việc tại Microsoft. Vì vậy nếu ứng viên đã có kinh nghiệm làm việc, mấu chốt quan trọng vẫn là khả năng anh ta có thể làm được gì trong tương lai. Việc dự đoán tương lai của ứng viên phụ thuộc vào việc anh ta trả lời những câu hỏi trong thời gian phỏng vấn tốt đến mức độ nào.
Adam David Barr, cựu nhân viên trong bộ phận tuyển nhân sự của Tập đoàn Microsoft, nói: “Microsoft tin là có thể đánh giá được một con người thông qua bốn hay năm cuộc phỏng vấn dài một giờ”.
Kỳ 2: IQ và thung lũng Silicon
TT - Thời trẻ, Bill Gates thường được nhắc đến như là tác giả của câu nói rằng trên đời này chỉ số trí tuệ là tất cả. Bill Gates say sưa với chỉ số trí tuệ như một số doanh nhân thời bấy giờ nghiện xì gà, rượu Martini hoặc miếng bít tết lòng đào to tướng.
Bill Gates giải thích triết lý tuyển nhân viên của ông như sau: với một người thông minh và nắm bắt vấn đề nhanh thì bạn có thể dạy họ bất cứ điều gì. Vậy thực chất trí tuệ là gì?
Cha con nhà Terman
Nhà tâm lý học Lewis M.Terman (1877 - 1956) là giảng viên tại Trường đại học Stanford, ông đã soạn thảo trắc nghiệm kinh điển để đánh giá chỉ số trí tuệ và tuyên truyền không mệt mỏi việc sử dụng chúng. Sau vài năm giảng dạy, Lewis Terman trở thành ngôi sao sáng nhất trong số những giáo viên ở Stanford, là người có công đưa Trường Stanford thành một trong những trung tâm tri thức quan trọng bậc nhất thế giới, và thung lũng nhỏ Silicon trước kia chỉ được biết đến như là nơi trồng mơ thì nay đã có vị trí xứng đáng trên bản đồ địa lý thế giới. Lewis đã dịch sang tiếng Anh một trong những trắc nghiệm đầu tiên về trí tuệ của chuyên gia tâm lý học người Pháp Alfred Binet. Lịch sử đã trùng lặp khi cả Lewis và con trai ông
- Frederick - đều đóng những vai trò quan trọng trong việc biến thung lũng Silicon thành một trung tâm công nghệ cao của thế giới.
Kết quả trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet được Terman đặt cho một cái tên rất “đắt” và dễ nhớ là chỉ số trí tuệ (còn gọi là chỉ số thông minh), viết tắt là IQ (intelligence quotient). Nhà tâm lý học William Stern trước đó từng đề nghị chia số “tuổi trí tuệ” của một đứa trẻ cho tuổi sinh học của nó để nhận được cái gọi là “chỉ số phát triển trí tuệ”. Chỉ số này cho biết đứa trẻ thông minh tới mức độ nào. Terman phát triển ý tưởng của William Stern bằng cách nhân con số thu được với 100 và đặt tên cho nó là “chỉ số trí tuệ”. Cái tên IQ đã ra đời như vậy.
Công thức này không thích hợp lắm đối với người lớn. Chẳng hạn, nếu một người có tuổi sinh học là 30 nhưng lại có tuổi trí tuệ của người 50 tuổi thì điều này sẽ nói lên điều gì? Terman đã giải quyết vấn đề này bằng cách đơn giản như sau: ông sửa lại giá trị của IQ để sao cho con số 100 là chỉ số trí tuệ trung bình của một người bất kể ở tuổi tác nào. Terman ước mơ biến nước Mỹ thành một xã hội lý tưởng trọng dụng nhân tài, trong đó từ những người trí tuệ kém phát triển cho đến những thiên tài đều được làm những công việc thích hợp tương ứng với IQ của mình.
Nói đến thung lũng Silicon thì phải nói về con trai của Lewis Terman - Frederick Terman. Bạn sẽ thấy ngày nay tên tuổi dòng họ Terman xuất hiện khắp nơi trong Trường đại học Stanford. Terman con xuất thân là một kỹ sư điện, sau đó trở thành giáo sư, chủ nhiệm khoa và cuối cùng là hiệu trưởng Trường đại học Stanford. Ông cũng là người có công nhiều nhất đưa trường đại học của mình lên vị trí như hiện nay. Đóng góp của Frederick đối với văn hóa Mỹ không kém gì so với đóng góp của cha ông. Với ý muốn xóa đi khoảng cách giữa giới kinh doanh và nền khoa học hàn lâm, ông mơ ước thành lập một khu công nghiệp ở Palo-Alto, ngay cạnh trường đại học. Năm 1918, ông đã thuyết phục được hai sinh viên tài năng của mình là William Hewlett và David Packard mở xưởng sản xuất trong một nhà để xe tại Palo-Alto, sản phẩm đầu tay của họ là các máy phát âm thanh tần số thấp. Năm 1956, Terman thu hút được một doanh nhân nổi tiếng thời bấy giờ tham gia dự án của mình: William Shockley. Lúc này, Shockley đang nung nấu ý định thành lập công ty riêng nhằm thương mại hóa công nghệ bán dẫn. Hoạt động quản lý công ty của Shockley bắt đầu từ việc phỏng vấn tuyển nhân sự. Ông buộc mọi ứng viên đều phải làm trắc nghiệm IQ. Và ông đã tìm được những kỹ sư và nhà khoa học tài năng tầm cỡ quốc tế. Gordon Moore (tác giả của định luật Moore nổi tiếng và là người đồng sáng lập Công ty Intel) nhớ lại hồi đó khi ông làm các bài trắc nghiệm thì Shockley cầm chiếc đồng hồ bấm giây. Sau cuộc phỏng vấn, Shockley đánh giá Moore đủ thông minh để được nhận vào làm việc.
“Lời đề nghị khiếm nhã”
Một trong số những “lời đề nghị hết sức khiếm nhã” của Shockley thời đó đối với Chính phủ Mỹ là chính phủ nên trả một khoản tiền bồi thường nào đó cho những người có IQ thấp, đổi lại những người này sẽ triệt sản vĩnh viễn, khước từ quyền có con nối dõi. Ông đề nghị khoản tiền đó tính như sau: nếu IQ trung bình là 100, những người trí tuệ kém phát triển sẽ có IQ nhỏ hơn 100, và số tiền bồi thường cho họ sẽ là (100 - giá trị IQ của họ) x 1.000 USD! Sau đó ông lại nhận thấy rằng đối với những người thiểu não thật sự thì phép tính này là rất khó hiểu, vậy lại phải đưa thêm ra một phần thưởng đặc biệt kèm theo dành cho những người có công thuyết phục họ đi triệt sản.
Năm 1989, khi cái chết cận kề, Shockley đã thành công trong việc biến hai khái niệm chỉ số trí tuệ và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trở thành đồng nhất trong nhận thức của xã hội Mỹ. Ông đã làm cho tất cả mọi người phải xa lánh, kể cả những người mang trong mình dòng máu của ông. Chuyện về Shockley có lúc đã làm người dân Mỹ dần dần vỡ mộng về tính vạn năng của trắc nghiệm IQ. Từ những năm 1930, các trường đại học và các nhà tuyển dụng đã bắt đầu hiểu ra rằng trắc nghiệm IQ hoàn toàn không phải là phương thuốc trị bách bệnh như Terman từng tuyên truyền. Năm 1964, do có sự phân biệt chủng tộc nên việc kiểm tra IQ ở các trường phổ thông tại New York bị đình lại. Đến năm 1971, Tòa án tối cao Mỹ đã ra quyết định cấm sử dụng các bài trắc nghiệm IQ trong phần lớn các dạng tuyển dụng nhân sự. Tuy nhiên, vượt qua những cấm đoán, việc trắc nghiệm IQ vẫn diễn ra ở những công ty, bởi vì họ biết đó là cách để phát hiện người tài.
Nhiều người biết rõ rằng có sự giống nhau giữa các cuộc phỏng vấn của Microsoft với các trắc nghiệm IQ. Các chuyên gia tuyển nhân sự của Microsoft sử dụng bài toán đong 7 lít nước bằng hai cái bình 3 lít và 5 lít. Đây là bài toán rất giống với đề bài trong trắc nghiệm Stanford - Binet. Quan niệm về phương pháp phỏng vấn của Microsoft rất giống với quan niệm về những nghi lễ nhập môn khổ ải của hội huynh đệ nào đó: đối với những người dễ dàng trải qua những thử thách đó, họ có cách nhìn tích cực hơn nhiều so với những kẻ buộc phải “hành xác” bằng cách đứng phơi sương cả đêm giữa cánh đồng ngô với độc bộ đồ lót trên người mà cuối cùng thì vẫn xôi hỏng bỏng không, không được tiếp nhận vào hội.
Microsoft không phải là nơi phát sinh ý tưởng này. Các tài liệu mới nhất cho thấy việc sử dụng các bài toán đố trong các cuộc phỏng vấn bắt đầu vào năm 1979. Steve Abell (hiện là chủ tịch Công ty brising.com hoạt động trong lĩnh vực tư vấn phần mềm) nhớ lại vào năm đó ông có trải qua một cuộc phỏng vấn tuyển nhân sự ở Công ty Hewlett - Packard, nơi người ta đề nghị ông giải một bài toán logic. Câu hỏi đầu tiên dành cho Steve Abell ở Hewlett - Packard hồi đó như sau: “Bạn có tám đồng xu, một trong số đó nhẹ hơn những đồng còn lại. Hãy xác định nó sau hai lần cân so sánh mà không dùng quả cân”. Các “công dân Silicon” ngày nay luôn tự hào cho rằng các cuộc phỏng vấn trí tuệ bắt nguồn từ thung lũng nổi tiếng này.
Kỳ 3: Căng thẳng với Wall Street
TT - Những năm 1990, cách phỏng vấn của Microsoft đã trở thành chứng bệnh di căn. Các câu hỏi hóc búa, trò đố mẹo hoặc những yêu cầu kỳ quặc bắt đầu được các công ty ở bên ngoài trục Seattle - Silicon sử dụng rộng rãi.
Một trong những nơi mà các câu hỏi phỏng vấn khó trả lời được đưa ra nhiều nhất là cộng đồng tài chính ở New York (Mỹ).
>> Kỳ 1: Con nhân sư và Microsoft
>> Kỳ 2: IQ và thung lũng Silicon
Cánh cửa việc làm chỉ mở ra cho con sói
Phỏng vấn bằng cách đặt câu hỏi trí tuệ rất phù hợp với “văn hóa Phố Wall”. Ở nơi cuộc cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt và ranh giới thị phần là rất mong manh, giới tài chính luôn có các cuộc phỏng vấn tuyển nhân tài rất khắt khe. Với kiểu “phỏng vấn căng thẳng” hay phỏng vấn tạo stress, người ta cố gắng làm cho ứng viên cảm thấy không thoải mái để thăm dò phản ứng của anh ta/cô ta.
Theo qui trình của “liệu pháp im lặng”, bạn sẽ được mời đến phỏng vấn tại phòng làm việc của ai đó ở Wall Street. Trong vòng 5 hay 10 phút, những người ở đây không nói gì với bạn cả. Bạn tự giới thiệu về mình, giơ tay ra bắt, không một phản ứng nào hết. Người phỏng vấn có thể đọc báo, xem bản lý lịch của bạn. Và không nói một lời. Hoặc có thể người phỏng vấn giả vờ ngủ thiếp đi. Chuyện này tưởng như đùa, nhưng lại là kiểu chiến thuật tương đối thông dụng đến nỗi WetFeet.com - một trang web dành cho những người đang tìm việc - đã mở một diễn đàn thảo luận về việc ứng viên nên đối phó như thế nào khi bị rơi vào tình huống này. Trang web này khuyên bạn nên viết vào mảnh giấy dòng chữ “Tôi rất hài lòng về cuộc gặp gỡ với ngài” đặt trên bàn của người phỏng vấn đang thiu thiu ngủ rồi đứng lên ra về. Bạn hãy hi vọng rằng người phỏng vấn sẽ gọi bạn trở lại trước khi bạn ra khỏi cửa. Hoặc bạn được dẫn vào phòng họp và được đề nghị “ngồi xuống đâu đó”.
Sau khi bạn đã thực hiện yêu cầu, người phỏng vấn sẽ hỏi: “Tại sao anh/chị lại ngồi chỗ đó?”. Những chiếc bàn ở đa số các phòng họp thường có hình chữ nhật. Bạn sẽ chọn ngồi chỗ nào, ở đầu bàn hay ở cạnh bàn? Ở đây, thâm ý của nhà tuyển dụng là những con sói - những người có bản lĩnh mạnh mẽ hay chọn chỗ ngồi ở đầu bàn, còn những con cừu - những người nhút nhát thì ngồi sang bên cạnh. Cánh cửa việc làm chỉ mở ra cho con sói mà thôi.
Cần bao nhiêu thời gian để dịch chuyển núi Phú Sĩ?
Công ty tư vấn Booz, Allen & Hamilton có lẽ là tác giả của câu hỏi độc đáo này. Bạn hãy lên kế hoạch tưởng tượng nhưng rất khoa học là sẽ dịch chuyển nguyên vẹn cả núi Phú Sĩ theo cách các quốc vương châu Âu bắt các kỹ sư chuyển nguyên các tượng đài Ai Cập về thủ đô của mình.
Bài toán này trải qua rất nhiều thông số: thể tích, khối lượng, cần bao nhiêu xe tải, bao nhiêu người làm việc mỗi ngày... Nếu chúng ta thử nghiệm phương pháp không kém phần thiếu thực tế là huy động 6 tỉ người sống trên trái đất cùng tham gia (và cung cấp cho họ đủ dụng cụ và sắp xếp sao cho mọi người không cản trở công việc của nhau) thì có thể dịch chuyển núi Phú Sĩ trong hai ngày. Cứ cho là Chính phủ Nhật quyết định dịch chuyển núi Phú Sĩ và huy động được một nguồn lực to lớn để thực hiện nhiệm vụ này với 10.000 nhân công, họ cần phải thực hiện nhiệm vụ này trong 1 triệu ngày, hay khoảng 3.000 năm.
Nhiều câu hỏi sẽ không bao giờ có câu trả lời chính xác, song cách bạn suy nghĩ, tính toán, đưa ra phương án, người ta sẽ biết bạn là người đủ thông minh hay không, có làm được gì cho tương lai hay không, có khát vọng hay không…
Công ty Lehman Brothers đã trở nên nổi tiếng nhờ vào lời đề nghị các ứng viên mở cửa sổ. Yêu cầu này được đưa ra cũng bình thường như việc người phỏng vấn xin lỗi đi ra ngoài vì có điện thoại ở phòng bên cạnh. Vấn đề là Công ty Lehman Brothers tổ chức buổi phỏng vấn này ở một văn phòng nằm trong tòa nhà chọc trời, nơi cửa sổ không mở được! Goldman Sachs đã sử dụng câu đố yêu cầu cân tám viên bi để tìm ra một viên nặng hơn trong số đó.
Còn Công ty Smith Barney thì hỏi ứng viên phải làm thế nào để đong được 4 gallon nước bằng hai chiếc bình có dung tích 3 gallon và 5 gallon. Câu hỏi “Tại sao các nắp cống trên đường có hình tròn mà không phải hình vuông?” và những câu hỏi không có câu trả lời chuẩn khác cũng hay được sử dụng.
Liệu bạn sẽ hỏi gì khi đối diện với câu hỏi tình huống “nát óc” này: Đối diện với bạn là hai cánh cửa. Một cửa dẫn đến địa điểm phỏng vấn, còn cửa thứ hai dẫn đến lối đi ra ngoài. Cạnh cửa có một người đang đứng. Người này có thể là nhân viên của công ty, nhưng cũng có thể là nhân viên của đối thủ cạnh tranh. Nhân viên của chúng tôi bao giờ cũng nói thật, còn nhân viên của công ty cạnh tranh luôn luôn nói dối. Bạn được phép đặt ra cho người này một câu hỏi để tìm ra cánh cửa dẫn đến địa điểm phỏng vấn.
Điên rồ và hà khắc
Công ty Development Dimensions International (DDI) khẳng định rằng họ đã giúp các công ty tuyển được 15 triệu nhân viên nhờ vào phương pháp gọi là “tuyển nhân viên dựa trên năng lực” mà công ty vẫn tự hào.
Một trong số những công ty sử dụng dịch vụ của DDI là Unisys. Những ứng viên vào các vị trí quản lý ở Unisys được yêu cầu dành ra một ngày để điều hành một công ty ảo có tên Pilot, Inc. Ứng viên được dẫn đến văn phòng giả định là của công ty này (thực chất là văn phòng của DDI) giống như anh ta/cô ta đã được tuyển vào vị trí điều hành và hôm nay là ngày làm việc đầu tiên của họ.
Ứng viên này ngồi xuống và bắt đầu giải quyết một lượng dồn dập các thư điện tử, điện thoại mỗi lúc một tăng... Các nhà tâm lý của DDI quan sát ứng viên qua màn hình vô tuyến để đánh giá xem họ thực hiện công việc thế nào. Người sáng lập DDI, William Byham, giải thích: “Chúng tôi đem tất cả mọi sự khủng hoảng mà người quản lý có thể gặp phải trong một năm và góp lại chỉ trong một ngày”.
Nhiều công ty có khuynh hướng “no dồn, đói góp”. Mọi người đã trải qua những cuộc phỏng vấn tuyển dụng “nát óc” nói chung thường ra về với một trong hai cảm giác sau: cuộc phỏng vấn thật là điên rồ, hoặc cuộc phỏng vấn này hà khắc.
Từ đây có thể suy ra rằng những cuộc phỏng vấn ở bất cứ công ty nào khác cũng sẽ điên rồ hơn và/hay hà khắc hơn. Người chịu trách nhiệm tuyển nhân sự của Công ty Blair Television (một hãng ở New York chuyên bán các chương trình quảng cáo trên vô tuyến) tăng thêm gia vị cho cuộc phỏng vấn của mình bằng cách giả vờ tìm kiếm thứ gì đó trong ngăn kéo rồi lấy ra một quả lựu đạn. “Nếu anh/chị giỏi như vậy - bà nói với các nhân viên bán hàng tương lai - thì hãy thử bán cho tôi vật này đi”.
Đối với những người thiếu kinh nghiệm trả lời phỏng vấn thì phương pháp của Zefer Corp. được ưa chuộng hơn cả. Ứng viên được giao cho một bộ xếp hình Lego và anh ta/cô ta có năm phút để lắp ráp thành một cái gì đó. Đó là phần A của cuộc phỏng vấn. Phần B là “Hãy giải thích anh/chị vừa xếp hình gì”. Susan Perry, “phó chủ tịch tìm kiếm nhân tài” của Zefer, luôn khẳng định rằng bài trắc nghiệm Lego “đã gợi mở những cuộc đàm thoại thú vị và tiết lộ bản chất của ứng viên, điều luôn kích thích sự tò mò và thách thức nhà tuyển dụng”.
Đến với Wall Street, bạn đừng ngạc nhiên khi có nhiều công ty hỏi các ứng viên câu hỏi thiết kế phòng... toilet, chỉ khác nhau ở chỗ thay đổi giới tính và đặc điểm của nhân vật chính. Ví dụ có công ty đã hỏi: "Bạn có thể đưa ra thiết kế phòng vệ sinh như thế nào dành cho một phu nhân giàu có nặng 150kg?". Hoặc bạn cũng đừng e ngại mà hãy bình tĩnh và sáng suốt khi đối diện với câu hỏi "điên khùng" như thế này: Bạn có thể đưa ra mẫu thiết kế như thế nào dành cho phòng vệ sinh của Bill Gates? Trong trường hợp này, trí tưởng tượng của bạn phải phát huy, hãy hình dung rằng bạn ngồi cùng Bill Gates và nghe ông ta nói về ước mơ của mình trong việc sở hữu một phòng vệ sinh lý tưởng…
Con người từ lâu đã có ước mơ về trí tuệ nhân tạo, về những máy móc được lập trình để suy nghĩ, nhận định và giải quyết vấn đề giống như con người. Muốn làm được điều đó, con người phải nghiên cứu một điều quan trọng: con người suy nghĩ để giải quyết vấn đề như thế nào. Một cuộc vật lộn với robot đã diễn ra…
Kỳ 4: Trí tuệ nhân tạo
TT - Đối diện với những vấn đề hóc búa, những trường hợp chưa biết, bạn phải làm thế nào để có thể giải được chúng? Con người từ lâu đã muốn trả lời câu hỏi này.
Xét từ một góc độ nào đó thì đây là vấn đề mấu chốt của việc nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI - artificial intelligence).
Mọi con đường đều dẫn đến lời giải
Bill Gates và gần như tất cả đồng nghiệp của ông đã trưởng thành từ ước mơ về trí tuệ nhân tạo (còn gọi là trí thông minh nhân tạo), về những máy móc được lập trình để suy nghĩ, nhận định và giải quyết vấn đề giống như con người. Một trong những phương pháp truyền thống để tiếp cận AI bắt đầu từ việc nghiên cứu quá trình con người suy nghĩ để giải quyết các vấn đề như thế nào.
Herbert Simon (1916-2001) được xem là cha đẻ của các công trình nghiên cứu hiện đại chuyên về cách giải quyết vấn đề. Phần lớn sự nghiệp của người đàn ông tài ba này (đã đoạt giải Nobel kinh tế năm 1978) diễn ra tại Trường đại học Carnegie - Mellon, nơi có truyền thống nghiên cứu lĩnh vực máy tính và người máy.
Simon muốn khám phá cách giải quyết vấn đề của con người để từ đó nghiên cứu cách lập trình cho máy tính, nhằm mục đích biến máy tính thành công cụ có thể làm thay công việc của con người. Simon phát hiện sau vài lần thất bại thì phần lớn mọi người đều tìm được câu trả lời đúng, không bao giờ việc giải các câu hỏi hóc búa hay các phát minh khoa học lại là kết quả của một phút thăng hoa bất ngờ. Tất cả là nhờ “không gian giải pháp”.
Bạn phải tìm sách trong thư viện như thế nào nếu sách ở đây không được xếp theo danh mục? Thiền sư người Nhật Shin’ichi Hisamatsu nói rằng tất cả các công án (tên gọi các bài “toán đố” của phái thiền) có thể được rút gọn lại thành một công thức sau: “Không được phép làm gì cả. Vậy bạn làm gì?”.
Phương án được Microsoft đưa ra như sau: Không có khả năng có thể tìm thấy cuốn sách. Vậy bạn làm gì? Việc duy nhất mà bạn có thể làm là tìm trong “không gian giải pháp” một cách hiệu quả nhất trong chừng mực có thể. Bạn cần phải chuẩn bị tinh thần, đừng vội vã dừng lại ngay từ đầu (chẳng có gì đạt được mà không phải đổ mồ hôi sôi nước mắt cả). Đó cũng chính là điểm khác nhau giữa những người giải được các bài toán đố và những người không giải được.
Sau khi bước qua sự phân tích đầu tiên, bạn sẽ thấy bài toán trở nên đơn giản hơn rất nhiều lần so với hình dung ban đầu. Cây khả năng sẽ không phân nhánh một cách vô hạn và tất cả mọi con đường đều sẽ dẫn bạn đến với lời giải đúng. Gần như tất cả các câu hỏi hóc búa đều có chung một kết cục như vậy. Đối với phần lớn mọi người, các suy luận thường là khó nhưng đối với máy tính thì ngược lại, có những thuật toán hữu hiệu để tìm kiếm theo sơ đồ hình cây và “tìm nhánh” (như công cụ tìm kiếm trên mạng Internet Yahoo! hay Google).
Tại sao có thể đánh bại robot?
Chắc hẳn bạn cũng đã từng được xem các trận chiến giữa những người máy trên tivi. Con người chế tạo ra chúng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là phá hủy những người máy khác. Sau đó, chúng được đưa lên đấu trường để chúng ta theo dõi chuyện gì sẽ xảy ra. Những cuộc tranh tài như vậy ít ra cũng chứng minh được một điều: “phá hủy” người máy là điều quá đơn giản.
Mặt trời bao giờ cũng mọc ở hướng đông?
Câu trả lời là không đúng. Một số ứng viên đưa ra các ví dụ trong không gian vũ trụ. Sao Kim (Venus) và sao Thiên vương (Uranus) quay quanh trục và có chiều quay ngược với chiều quay của Trái đất. Nếu chúng ta đặt trong không gian một hành tinh tưởng tượng và không quay quanh quĩ đạo thì hoàn toàn không có hiện tượng Mặt trời mọc và lặn.
Người phỏng vấn không chấp nhận những câu trả lời tương tự như vậy và hỏi lại: “Có phải trên Trái đất bao giờ Mặt trời cũng mọc ở hướng đông?”. Câu trả lời cũng không có gì thay đổi, vẫn là không. Tại Bắc cực hoàn toàn không có hướng đông: tất cả các hướng đều chỉ về phía nam. Trong thời gian sáu tháng có Mặt trời, Mặt trời luôn mọc và lặn từ hướng nam. Còn ở Nam cực thì ngược lại. Ở đây các hướng đều chỉ về phương bắc.
Có thể có ích cho bạn: biết và nghĩ nhiều hơn về những gì bạn đã biết và đã nghĩ, nghĩ xa hơn những giới hạn xung quanh bạn, như thế sẽ có một con đường, dù con đường ấy không đưa bạn đến đích nhưng cũng có con đường, còn hơn không có con đường nào cả để đi.
Việc chiến thắng người máy nói chung là dễ dàng vì chúng chỉ hành động theo những gì mà chương trình đã lập sẵn. Người máy không nhìn thấy toàn bộ diễn biến của sự việc (không có tầm nhìn toàn cảnh) và không bao giờ có được những quyết định bất ngờ (những suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ).
Ví dụ, bạn có một người máy có đặc tính tự bảo vệ mình bằng súng phun lửa. Chỉ cần những người máy khác lọt vào bán kính 3m xung quanh nó, lập tức súng phun lửa sẽ hoạt động và mục tiêu chắc chắn là bị phá hủy. Để có thể chiến thắng loại người máy này, chỉ cần chế tạo một người máy khác có khả năng phun xăng vào đối tượng cách nó 3,5m sau đó lập tức chạy ra xa, người máy của chúng ta sẽ phát lửa vào đối thủ và đồng thời tự hủy diệt mình.
Trong khi nếu là con người ở trường hợp đó, hiển nhiên chúng ta sẽ nghĩ rằng “người mình đẫm xăng thế này thì dại gì lại sử dụng súng phát hỏa cơ chứ”. Nhưng với người máy thì không, nó không “thông minh” để có khả năng suy luận như con người. Đây là một trong những vấn đề khó nhất của AI.
Khi mà người máy bất khả chiến bại của bạn vừa bị hạ gục và chỉ còn là một đống kim loại bỏ đi, phản ứng tự động của bạn sẽ là cố gắng tìm cách chế tạo một người máy mới tốt hơn, với những tính toán kỹ càng hơn sao cho sản phẩm này có khả năng nhận biết các yếu tố của môi trường xung quanh, đồng thời biết “suy ngẫm”, dự tính về những diễn biến, hậu quả có thể xảy ra trong hành động của mình. Đây là những mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trong thế giới mã máy tính và những con chip, để thực hiện được điều đó cần phải có một sự nỗ lực khủng khiếp.
Việc mở rộng khả năng bao quát của người máy đòi hỏi khối lượng tính toán của bộ óc nhân tạo phải tăng theo cấp số mũ. Càng phải dự tính được nhiều hậu quả xảy ra sau mỗi hành động của mình thì người máy càng có những phản ứng chậm chạp. Và có lẽ chẳng có gì tồi tệ hơn một người máy chậm chạp.
Nói chung, loài người “đóng khung” các vấn đề tốt hơn hệ thống trí tuệ nhân tạo tân thời. Bằng cảm tính của bản năng, chúng ta hiểu được điều gì là quan trọng và điều gì không quan trọng đối với mỗi trường hợp mà chúng ta gặp phải, mặc dù cảm tính đó cũng có lúc sai. Để có thể dễ dàng giải các bài toán đố, bạn phải đồng thời suy nghĩ theo ít nhất hai hướng. Hướng thứ nhất để giải bài toán, hướng thứ hai là theo dõi khả năng thành công của hướng thứ nhất.
Bạn cần phải liên tục tự đặt câu hỏi cho bản thân: Liệu cách giải quyết này có đúng không? Còn phải mất bao nhiêu thời gian nữa và khả năng mình đang đi đúng hướng là bao nhiêu phần trăm? Liệu có nên thử thêm cách khác nữa không? Khả năng tự nhận thức cao là đặc điểm của những người luôn tìm được câu trả lời đúng cho các bài toán đố. Bạn cũng có thể nhận thấy đặc điểm đó cả ở những người thành công khi đi phỏng vấn tuyển dụng, vì đối với họ việc quan trọng không những là phải trả lời đúng các câu hỏi mà còn là hiểu như thế nào, vấn đề cần được xem xét đến đâu.
Bill Gates khẳng định không có bất cứ một tập đoàn nào có thể vĩnh viễn giữ được vị trí dẫn đầu của mình khi chuẩn mực công nghệ luôn biến đổi. Chính vì vậy, tập đoàn khổng lồ và thành công Microsoft luôn ở trong trạng thái bị các đối thủ mới ra đời đe dọa. Bill Gates nói rằng mục đích của ông là làm cho Microsoft đi ngược lại với qui luật trên và tiếp tục phát triển, mặc cho sự thay đổi chuẩn mực công nghệ đang diễn ra liên tiếp.
Có bao nhiêu người lên dây đàn dương cầm trên thế giới? Ở Manhattan, bạn phải giở ngẫu nhiên bao nhiêu trang trong danh bạ điện thoại để có số điện thoại cần tìm?... Trong một nền “văn hóa toán đố”, những câu hỏi như đều có lời giải. Các công ty muốn tuyển dụng đúng người tài đều đặt yếu tố sáng tạo và cách giải quyết vấn đề lên hàng đầu.
Kỳ 5: Vượt qua khó khăn
TT - Những người phỏng vấn tuyển lựa người tài đánh giá rất cao những câu trả lời thông minh và độc đáo. Bạn có biết một số người khờ khạo đã cố gắng gửi đến nhà tuyển dụng những bản sơ yếu lý lịch hết sức độc đáo để mong gây được sự chú ý? Hành động đó rất hiếm khi phát huy tác dụng, nhưng trong lúc phỏng vấn, một câu trả lời tốt mang tính sáng tạo sẽ làm cho ứng viên trở nên nổi bật.
Nguyên tắc "Không gây hại" của Hippocrates được Microsoft dùng làm nguyên tắc chủ yếu để tuyển dụng nhân tài
Nguyên tắc Hippocrates
Joel Spolsky - tổng giám đốc Hãng Fog Creek Software tại News York - cho rằng phương pháp tuyển nhân sự phải được xây dựng nhằm phát hiện được ra hai loại người: thứ nhất là loại người thông minh nhưng không thành công, thứ hai là thành công nhưng không thông minh. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực cạnh tranh cao cần phải tránh tuyển dụng cả hai dạng người này.
“Những người thông minh nhưng không thành công thường có bằng cấp tiến sĩ, làm việc tại các công ty lớn, nhưng ở đó chẳng ai biết đến tên tuổi của anh ta chỉ bởi họ là những người hoàn toàn không thực tế” - Spolsky giải thích - Còn những người thành công nhưng không thông minh thường dễ phạm phải những sai lầm ngu ngốc để rồi sau đó người khác sẽ phải chỉnh sửa sai lầm cho họ”. Hai loại người này rất dễ lầm với loại người thứ ba rất cần cho các công ty: đó là vừa thông minh vừa thành công.
Sau khi động não để tìm cách giải quyết một vấn đề phức tạp, ứng viên tham gia một cuộc tuyển lựa người tài cần phải lựa chọn được một ý tưởng tối ưu. Đây cũng chính là lúc có thể kiểm tra óc phán đoán của ứng viên. Tiếp đó ứng viên phải đi sâu vào một số tiểu tiết cũng như phát triển các lập luận cần thiết để biến ý tưởng đã chọn thành câu trả lời hoàn chỉnh. Điều quan trọng là phải bổ khuyết được tất cả các chỗ yếu và giải quyết được tất cả các mâu thuẫn chính. “Những ứng viên xuất sắc thường có khả năng tiến lên phía trước, thậm chí ngay cả khi bạn cố tình cản trở họ” - Spolsky nói.
Vậy bạn phải chuẩn bị như thế nào để vượt qua những trắc nghiệm “nát óc”? Sau đây là những gợi ý cho bạn:
- Trước tiên hãy xác định xem người ta đang mong đợi câu trả lời thuộc dạng nào (độc thoại hay đối thoại).
- Lời giải đầu tiên hiện ra trong đầu thường sai.
- Những câu hỏi dài, phức tạp thường có câu trả lời đơn giản.
- Những câu hỏi đơn giản luôn đòi hỏi câu trả lời phức tạp.
- Nếu bị rơi vào tình trạng bế tắc, hãy thử liệt kê tất cả các giả thiết bạn có được. Hãy suy nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra khi bạn lần lượt loại bỏ từng giả thiết đó.
Người ta thường nhắc đến “vở kịch ba màn” của Microsoft trong quá trình tuyển lựa nhân viên. Màn thứ nhất chỉ đơn thuần là việc phỏng vấn tuyển lựa sơ bộ qua điện thoại. Trong cuộc phỏng vấn mở màn này, ứng viên thường gặp phải những câu hỏi truyền thống, còn những bài toán đố rất ít khi được áp dụng ở đây.
Những câu trả lời qua điện thoại của ứng viên sẽ giúp nhà tuyển dụng ra quyết định liệu có nên mời ứng viên đến trụ sở chính của Microsoft ở Redmond (bang Washington, Mỹ) hoặc ở những nơi khác để tham dự các màn tiếp theo của “vở kịch” hay không. “Vở kịch” phỏng vấn tiếp theo thường kéo dài cả một ngày. Trong quá trình phỏng vấn, nhân viên tuyển nhân sự của Microsoft thường bí mật trao đổi ý kiến với nhau thông qua thư điện tử hoặc các cách khác mà họ qui ước với nhau.
Nguyên tắc chủ yếu của Microsoft trong khâu phỏng vấn tuyển dụng rất giống với nguyên tắc nổi tiếng của Hippocrates là “không gây hại”. Mục đích trước hết của tập đoàn là ngăn chặn mọi khả năng tuyển nhầm phải những ứng viên tồi, thậm chí nếu điều này đôi khi có thể đồng nghĩa với việc để vuột mất những ứng viên phù hợp. Chính vì nguyên tắc này mà rất ít khi nhân viên Microsoft phải thôi việc. “Món quà tốt nhất dành tặng cho các đối thủ cạnh tranh của chúng ta chính là các quyết định tuyển nhân sự sai lầm”, David Pritchard, giám đốc bộ phận tuyển dụng của Microsoft, nói.
Đối diện những “vở kịch”
Hẳn nhiên là các ứng viên khi đến dự phỏng vấn ở Microsoft đều không thể biết rằng các "màn diễn" tình huống thường xuyên xảy ra. Tình huống này cũng xuất hiện trong danh sách dài ngoằng những lời khuyên dành cho ứng viên chuẩn bị phỏng vấn ở Microsoft trên trang web của tập đoàn: nếu trong tiến trình phỏng vấn, bạn có ý nghĩ muốn đánh giá xem việc trả lời của mình diễn ra có thuận lợi hay không thì hãy cố quên nó đi.
Đừng thất vọng nếu bạn trả lời không đúng một câu hỏi nào đó, có thể cảm giác của bạn khác với sự thật. (Chuyện này vẫn thường xảy ra trong các cuộc thi, khi mà bạn cảm thấy mình đang làm sai bét nhưng thực tế lại không hẳn vậy, hoặc ngược lại). Đừng đánh mất bản thân, những ứng viên như vậy mới chính là những người mà chúng tôi cần.
Một ứng viên vốn được mô tả như là một “tay chơi” sành sỏi đã len lỏi qua được tất cả những vòng phỏng vấn sơ bộ và lọt vào cuộc phỏng vấn cuối cùng, và người phỏng vấn chính là Karen Fries. Cô gái này là một nhân vật quan trọng của Tập đoàn Microsoft, là người đã phát minh ra cái món “wizards” trong các phần mềm của Microsoft chuyên gợi ý, trợ giúp người sử dụng máy tính thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Có bao nhiêu trạm xăng ở Mỹ và những nơi khác? Bài toán "nát óc" nhưng vẫn giải được
Fries là một phụ nữ rất hấp dẫn. Chàng thanh niên kia khi nhìn thấy Fries lại nghĩ rằng tất cả những cuộc phỏng vấn quan trọng đã qua và đây là “phần thưởng” dành cho những câu trả lời xuất sắc, và “cô thư ký” này được cử đến chỉ để nói chuyện phiếm với anh.
Cuối cùng, trong thư điện tử gửi cho các đồng nghiệp, Fries nhận xét về ứng viên đó độc địa đến nỗi cho đến tận bây giờ nó vẫn là ví dụ điển hình ở tập đoàn này, nơi không thiếu những lời xỏ xiên, độc địa được dùng để đánh giá và nhận xét người khác. Chàng thanh niên “xuất sắc” đó đã không được nhận vào làm việc.
Rất khó tìm được lời giải đáp khôn khéo, đầy đủ cho những câu hỏi “không hợp lý lắm” dưới áp lực căng thẳng. Áp lực công kích trong cuộc họp báo vào tháng 3-1998 đã buộc chính Bill Gates phải “lớn tiếng phẫn nộ và tỏ ý khinh bỉ những người đã tỏ ra nghi ngờ hoạt động kinh doanh của ông”.
Tờ Washington Post thuật lại: “Ông đã bỏ qua không trả lời một câu hỏi mà ông cho là “không công bằng” và một câu khác vì “không trung thực”. “Thôi đủ rồi!” - ông sốt ruột ngắt lời một nhà báo. “Cho tôi thở một chút!”, giây lát sau ông lại nói với một nhà báo khác”. Rất nhiều ứng viên có cảm giác y như thế khi tham gia cuộc phỏng vấn tuyển dụng. Dù thích hay không bạn vẫn có thể sẽ phải đối diện với những câu hỏi đầy mưu mẹo và không dễ trả lời ở lần phỏng vấn tiếp theo.
Có bao nhiêu trạm xăng ở nước Mỹ? Câu hỏi này quả là khó nhưng không phải là không thể trả lời. Đáp số của bài toán này giúp để tính số lượng trạm xăng ở Mỹ và ở những nơi khác. Trung bình mỗi người dân Mỹ có một ôtô? Không đúng. Hai người một cái? Con số này chắc gần đúng hơn.
Vậy nếu dân số Mỹ là 300 triệu, tức nước Mỹ có khoảng 150 triệu ôtô, trung bình một ôtô cần phải đổ xăng một lần trong tuần. Vì vậy, trong một tuần tất cả các trạm xăng phải phục vụ số ôtô đúng bằng tổng số xe trong nước. Số giờ trong một tuần là 24x7, nhưng không phải tất cả các trạm xăng đều làm việc 24 giờ trong tuần.
Giả sử trung bình một trạm xăng làm việc 100 giờ/tuần, nếu đổ xăng cho một xe mất 6 phút tức mỗi máy bơm ở trạm xăng trong một giờ có thể phục vụ 10 ôtô. Những trạm xăng lớn ở những chỗ đông dân có thể đặt nhiều máy bơm và ngược lại có những trạm xăng rất ít khách, giả sử trung bình mỗi trạm xăng một giờ phục vụ 10 ôtô. Vậy trung bình một tuần, một trạm phục vụ 100x10 lần, hay 1.000 ôtô. Có nghĩa số trạm xăng ở nước Mỹ bằng 150 triệu/1.000 = 150.000. Kết quả của sự đánh giá này gần sát với sự thật.
Joel Spolsky động viên những người có khả năng rằng nhà tuyển dụng luôn biết cách khuyến khích bạn vượt qua những khó khăn, vấn đề là bạn có kích hoạt bộ não của bạn sáng tạo hay không.
“Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện, hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh” - Bill Gates viết trong cuốn sách Kinh doanh và tốc độ tư duy như thế? Chúng ta phải làm sao?
Kỳ cuối: Kích thích bộ não sáng tạo
TT - Giống như những vận động viên leo núi, họ trèo lên đỉnh núi là để tìm kiếm lời giải cho những bài toán hóc búa về chinh phục đỉnh cao. Và chỉ khi đạt tới đỉnh, họ mới tìm thấy nó. Tuy nhiên, hết đỉnh cao này rồi lại đến đỉnh cao khác, con đường vươn tới sáng tạo không ngơi nghỉ.
Bill Gates viết trong cuốn sách này: "Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh". Vậy phải làm sao?
“Văn hóa toán đố”
Bill Gates chưa bao giờ mất đi hứng thú đối với các bài toán đố. Không hiếm các buổi tối, Bill và vợ Melinda ở nhà chơi trò lắp hình làm từ những mảnh gỗ. Gia đình Bill thường mua hai bộ giống nhau và thi xem ai là người xếp xong trước. Trong bữa ăn tối, khi đang chờ người phục vụ đưa lên món tiếp theo, Bill hay đề nghị mọi người vẽ bản đồ nước Mỹ lên giấy ăn, người chiến thắng là người vẽ chính xác nhất.
Năm 1986, Bill Gates mua một quần thể gồm bốn nhà nghỉ nằm trên bờ biển Hood Canal ở vịnh Puget. Gia đình Bill và những nhân viên của Microsoft thường chơi “trò chơi vi mô” - một cuộc thi độc đáo và kỳ lạ, những người chiến thắng được đánh giá rất cao.
Trong trò “Chúng ta hát”, sau khi ai đó xướng lên một từ, mọi người phải hát bài hát trong đó có từ đó. Một lần, từ đưa ra là “biển”, đang chơi thì Bill đi ra bãi biển, một lúc sau mọi người nghe thấy từ trong bóng tối vang ra một giọng hát quen thuộc: “Từ biển xuất hiện một con rồng thần thoại...”.
Khi nhân viên của Microsoft đi công tác, họ có rất ít thời gian để thăm danh lam thắng cảnh, Microsoft luôn tổ chức sao cho mọi người luôn ở bên nhau và chơi các trò chơi có tính cạnh tranh quyết liệt. Khát vọng chiến thắng là đặc tính chung của tất cả mọi người trong Tập đoàn Microsoft. Để giành chiến thắng, Microsoft không dừng bước trước bất cứ một vật cản nào. Phương châm của Microsoft là “hành động quyết liệt”,”tiến hành các cuộc chiến cảm tử”, “chặn nguồn oxy” của các đối thủ cạnh tranh.
Một trong những khái niệm mà các nhân viên Microsoft thường dùng để tả về tập đoàn của mình là “trại toán học”. Lòng khao khát vượt lên trên thể hiện rõ nét trong những câu đố, các trò chơi đùa giải trí rất thông dụng ở Microsoft. Nghịch lý ở chỗ, các trò giải trí đáng ra là để nghỉ ngơi và giải tỏa căng thẳng thì lại trở thành điều gây áp lực nhất.
“Đế chế” của Microsoft tại Redmond (bang Washington, Mỹ) là một quần thể bao gồm 82 tòa nhà, rộng gấp chín lần Viện bảo tàng Louvre, tương đương diện tích của Lầu Năm Góc. Tại đây có cả bộ phận vận tải, thư viện, xưởng phim, bảo tàng, cửa hàng, sân đá bóng và bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật. Nhân viên được tự do hoàn toàn về mặt thời gian, chỉ cần họ làm tốt công việc của mình. Những điều đối với các công ty khác bị coi là kỳ quặc và không được phép thì ở đây hoàn toàn là có thể.
Như một người chinh phục đỉnh cao vẫn luôn nhìn về đỉnh cao khác, sự sáng tạo của bộ não không bao giờ có giới hạn.
Hãy luôn trong trạng thái bị đói
Phong cách phóng khoáng ngụy tạo này là đặc điểm chung của tất cả những người làm việc trong ngành công nghiệp phần mềm chứ không riêng gì ở Microsoft, nhưng nếu so sánh Microsoft với các công ty công nghệ cao khác thì Microsoft vẫn kỳ quái hơn nhiều. Nhân viên Microsoft bay trên những chuyến bay bình thường, nghỉ ngơi ở những khách sạn được xếp vào loại tốt nhưng không quá xa xỉ. Tập đoàn không có phòng ăn trưa dành riêng cho lãnh đạo cao cấp.
Gần như phòng làm việc của mọi nhân viên đều có kích thước 3x4m, bên trong được trang bị bằng loại gỗ không đắt tiền. Phòng làm việc của Bill Gates rộng hơn, nhưng những phóng viên đã từng có mặt ở đây đều nhận xét rằng chỗ làm việc của nhà sáng lập ra Microsoft rất bình thường, không đá hoa cương và chẳng có gì đặc biệt cả. Nhân viên Microsoft thường nói tập đoàn này là nơi bạn phải trồng cây rồi mới mong được hái quả.
Cuốn sách Inside out (Mặt trái) xuất bản nhân dịp 25 năm thành lập Microsoft đã có đoạn minh họa rõ nét về chính sách tiết kiệm này: “Để phòng xa, xin nhắc lại một điểm quan trọng có thể giúp chúng ta lúc nào cũng giữ vững vị trí tiên phong: hãy cố gắng đừng “béo phì” mà “hãy nên ở trong trạng thái đói”. Khó khăn và thiếu thốn thường nảy sinh sáng tạo”. Trong cuốn sách này bạn có thể tìm được câu châm ngôn ngắn gọn hơn: “Sự thừa thãi sẽ cản trở thành công”.
Một trong những chủ đề bàn luận thường xuyên của những lãnh đạo cao cấp ở Microsoft là khả năng diệt vong của tập đoàn. Bill Gates nghiêm khắc cảnh báo trong lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Microsoft: “Nếu chúng ta có những quyết định sai lầm thì tất cả những gì chúng ta tạo ra được trong 25 năm qua sẽ tan thành mây khói”.
“Một lúc nào đấy sẽ có ai đó bất ngờ theo kịp được chúng ta”, Bill viết trong cuốn sách Business@ the speed of thought (Kinh doanh và tốc độ tư duy), “Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh”. Đây không chỉ là sự e ngại của một mình Bill. Steve Ballmer - đồng sự của Bill - viết: “Đối thủ cạnh tranh mới của chúng ta có thể xuất hiện bất ngờ từ “hư vô” và chỉ trong một đêm đánh gục chúng ta”. Hoặc Jeff Raikes: “Nếu như chúng ta không luôn có những quyết định mới theo kịp nhu cầu của người tiêu dùng dựa vào những công nghệ tiên tiến nhất, thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể bị loại bỏ khỏi môi trường kinh doanh”.
Người ngoài cuộc có thể cười khẩy khi nghe vậy. Microsoft là một quả bóng bơm hơi quá lớn. Cho dù nếu như có ai đó dám chọc một lỗ vào quả bóng thì cũng phải rất lâu sau quả bóng mới xì hết hơi. Mặc dù vậy, trên quan điểm lịch sử phát triển thì những gì mà Bill và Steve Ballmer nói là hoàn toàn có lý. Thông thường các công ty khó mà có thể giữ lâu được vị trí quán quân của mình, đặc biệt những công ty sống bằng công nghệ tân tiến sẽ tiêu vong nếu không kịp thời phản ứng trước sự thay đổi của công nghệ.
Chiến thắng hay chiến bại?
Những từ như “sáng tạo” và “tân tiến” là những khái niệm rất quan trọng đối với Microsoft. Mức độ sáng tạo của Microsoft, giống như ở bất cứ một công ty nào khác, phụ thuộc trước tiên vào khả năng sáng tạo và đổi mới của những nhân viên làm việc tại đây. Tập đoàn Microsoft biết rất rõ họ cần thu hút những người như thế nào và họ đủ tiềm lực vật chất để làm được điều này, mục tiêu là kích hoạt bộ não từng nhân viên sáng tạo.
Phương châm chính của Microsoft trong việc tuyển nhân sự là tìm được những “phiên bản của Bill”. Đây là ngôn ngữ lóng của Microsoft chỉ những người trẻ tuổi thông minh, khao khát vươn lên và đầy tham vọng nhưng lại chưa có kinh nghiệm thực tế, giống như Bill Gates trước đây. Các nhân viên tuyển nhân sự của Microsoft tự hào rằng không có ai xuất sắc hơn họ trong việc tìm được những người rất có tiềm năng, chứ không chỉ những người đã chứng tỏ được khả năng trong chuyên ngành của mình.
Trên quan điểm của Microsoft, các câu hỏi hóc búa không những chỉ kiểm tra được trí tuệ mà còn cả động cơ và ham muốn vươn lên của ứng viên. Cũng giống như kinh doanh hay thể thao, việc giải các bài toán đố có thể chia mọi người ra làm hai loại: chiến thắng và chiến bại. Chỉ có hai khả năng, bạn có thể tìm ra lời giải hoặc không.
Bất cứ một huấn luyện viên thể thao nào cũng có thể khẳng định với bạn rằng để giành được chiến thắng thì chỉ có khả năng thôi chưa đủ, bạn còn cần phải trở thành một kẻ “háu đói” ham muốn chiến thắng. Có cảm giác rằng những người biết cách giải những bài toán đố không những có trí tuệ cao mà còn chứa trong mình động lực sẵn sàng giải quyết tất cả những vấn đề đang thách thức họ. Bằng cách đó, họ đã kích thích bộ não sáng tạo và những thành quả của họ tạo ra từ đó.
From Another Resource!
Wednesday, March 30, 2011
Cách trị ho đơn giản nhưng mầu nhiệm.
Cách trị ho đơn giản nhưng mầu nhiệm.
Việt Dương Nhân sưu tầm
Dưới đây là cách trị khỏi ho rất giản dị, không tốn kém, mà hiệu quả thật là thần diệu :
Một số Bác sĩ và Khoa học Gia ở bên Quebec, Canada tình cờ khám phá ra rằng khi bạn bị " ho hành hạ " bất kể là ho phát xuất từ cảm lạnh, cúm, sốt, dị ứng hay ho đã lâu mà không khỏi !... " Buổi tối trước khi lên giường ngủ, bạn hãy thoa dầu nóng ngay dưới gan bàn chân và đi vớ thật ấm để ngủ. Sáng hôm sau thức giấc bạn sẽ thấy triệu chứng ho giảm hẳn. Hãy lập lại vài ba lần như thế tối trước khi đi ngủ thì cơn ho của bạn sẽ dứt tuyệt." Chẳng cần phải đi Bác sĩ hay tốn tiền mua các loại thuốc ho ở ngoài thị trường vừa tốn tiền mà còn day dưa lâu khỏi !
Các Bác Sĩ Canada lấy làm ngạc nhiên và đang còn trong vòng nghiên cứu tại sao một sự việc rất đơn giản như thế mà hiệu quả trị được ho một cách bất ngờ ngoài sức tưởng , dứt tuyệt và không còn ho nữa ? Cá nhân tôi ngay lúc ấy cũng đang bị ho khem thế là tôi thử áp dụng ngay vì đâu thấy gì là hại đâu.
Mà kỳ lạ thay quý vị ơi ! Chỉ trong 2 ngày thôi, mỗi tối tha Bengay (Gel nóng)vào ngay gan bàn chân và đi vớ thật ấm, sau 2 ngày cơn ho của tôi đã ra đi không trở lại.
Tuy khỏi ho nhưng tôi cũng ngờ ngợ hay là có một trùng hợp ngẫu nhiên nào? tôi liền áp dụng cách này ngay cho vợ tôi cũng đang bị ho cả gần một tháng trời mà không khỏi. Quả nhiên chỉ sau một ngày thôi, sáng hôm sau cơn ho của bà ấy đỡ hẳn. Vợ tôi thực hành cách trên thêm 2 hôm nữa bệnh ho dứt tuyệt. Thích quá đúng là duyên lành mới biết được cách trị ho tuyệt hảo mà các Khoa học Gia Gia Nã Ðại đã tìm ra, tôi liền phone cho tất cả các người thân, các bạn bè quen biết hoặc bất cứ ai thân hay sơ gặp gỡ trên đường đời... tôi liền chỉ cho mọi người cách trị ho giản dị và độc đáo này. Tôi có ghé vào một chỗ châm cứu và tò mò hỏi cái quan trọng hay huyệt đạo nào có ở dưới gan bàn chân ? Và tôi được họ cho biết rằng ngay dưới Gan bàn chân có một Ðại huyệt rất quan trọng của cơ thể gọi là Huyệt Dũng Tuyền ..
Xin quý vị hãy phỗ biến rộng rãi cách trị ho thần diệu này đến với mọi người để cúng dường thế gian và gây nhân lành cho quý vị.
Việt Dương Nhân sưu tầm
Dưới đây là cách trị khỏi ho rất giản dị, không tốn kém, mà hiệu quả thật là thần diệu :
Một số Bác sĩ và Khoa học Gia ở bên Quebec, Canada tình cờ khám phá ra rằng khi bạn bị " ho hành hạ " bất kể là ho phát xuất từ cảm lạnh, cúm, sốt, dị ứng hay ho đã lâu mà không khỏi !... " Buổi tối trước khi lên giường ngủ, bạn hãy thoa dầu nóng ngay dưới gan bàn chân và đi vớ thật ấm để ngủ. Sáng hôm sau thức giấc bạn sẽ thấy triệu chứng ho giảm hẳn. Hãy lập lại vài ba lần như thế tối trước khi đi ngủ thì cơn ho của bạn sẽ dứt tuyệt." Chẳng cần phải đi Bác sĩ hay tốn tiền mua các loại thuốc ho ở ngoài thị trường vừa tốn tiền mà còn day dưa lâu khỏi !
Các Bác Sĩ Canada lấy làm ngạc nhiên và đang còn trong vòng nghiên cứu tại sao một sự việc rất đơn giản như thế mà hiệu quả trị được ho một cách bất ngờ ngoài sức tưởng , dứt tuyệt và không còn ho nữa ? Cá nhân tôi ngay lúc ấy cũng đang bị ho khem thế là tôi thử áp dụng ngay vì đâu thấy gì là hại đâu.
Mà kỳ lạ thay quý vị ơi ! Chỉ trong 2 ngày thôi, mỗi tối tha Bengay (Gel nóng)vào ngay gan bàn chân và đi vớ thật ấm, sau 2 ngày cơn ho của tôi đã ra đi không trở lại.
Tuy khỏi ho nhưng tôi cũng ngờ ngợ hay là có một trùng hợp ngẫu nhiên nào? tôi liền áp dụng cách này ngay cho vợ tôi cũng đang bị ho cả gần một tháng trời mà không khỏi. Quả nhiên chỉ sau một ngày thôi, sáng hôm sau cơn ho của bà ấy đỡ hẳn. Vợ tôi thực hành cách trên thêm 2 hôm nữa bệnh ho dứt tuyệt. Thích quá đúng là duyên lành mới biết được cách trị ho tuyệt hảo mà các Khoa học Gia Gia Nã Ðại đã tìm ra, tôi liền phone cho tất cả các người thân, các bạn bè quen biết hoặc bất cứ ai thân hay sơ gặp gỡ trên đường đời... tôi liền chỉ cho mọi người cách trị ho giản dị và độc đáo này. Tôi có ghé vào một chỗ châm cứu và tò mò hỏi cái quan trọng hay huyệt đạo nào có ở dưới gan bàn chân ? Và tôi được họ cho biết rằng ngay dưới Gan bàn chân có một Ðại huyệt rất quan trọng của cơ thể gọi là Huyệt Dũng Tuyền ..
Xin quý vị hãy phỗ biến rộng rãi cách trị ho thần diệu này đến với mọi người để cúng dường thế gian và gây nhân lành cho quý vị.
Tuesday, March 29, 2011
Beside and Besides
Beside means "Close to" or "by the side of"
Besides means "in addition to"
Examples: Come, sit beside me. (Next to me)
Besides me, Fran and Millie will be there. (In addition to me)
Besides means "in addition to"
Examples: Come, sit beside me. (Next to me)
Besides me, Fran and Millie will be there. (In addition to me)
Monday, March 21, 2011
hahahaha!
Trong nhà tù nọ có đại ca nổi tiếng hung hăng. Phạm nhân mới nào làm mếch lòng hắn đều bị điều trị ra trò.
Một hôm người nhà phạm nhân mới mang vào một con gà béo thơm ngon. Đại ca thèm lắm nhưng chẳng lẽ lại ra cướp gà ăn thì mất thể diện quá, liền gọi tên đàn em ra.
- Mày xem thằng kia nó làm gì với con gà đầu tiên thì mày cũng làm y như thế với nó. Nó bẻ cánh mày bẻ tay, nó bẻ đùi gà mày cũng bẻ đùi nó… Nếu mày không làm thế với nó thì tao sẽ làm thế với mày – đại ca gằn giọng.
- Vâng, thưa đại ca.
Chú phạm nhân mới toát hết mồ hôi hột… Nhưng một lúc sau… tên đàn em quay về bẩm báo đại ca, vừa đi vừa khóc:
- Em xin chịu tội với đại ca em không làm được.
- Thằng này nhu nhược quá, thế nó đã làm gì với con gà đầu tiên?
- Nó liếm phao câu con gà.
Một hôm người nhà phạm nhân mới mang vào một con gà béo thơm ngon. Đại ca thèm lắm nhưng chẳng lẽ lại ra cướp gà ăn thì mất thể diện quá, liền gọi tên đàn em ra.
- Mày xem thằng kia nó làm gì với con gà đầu tiên thì mày cũng làm y như thế với nó. Nó bẻ cánh mày bẻ tay, nó bẻ đùi gà mày cũng bẻ đùi nó… Nếu mày không làm thế với nó thì tao sẽ làm thế với mày – đại ca gằn giọng.
- Vâng, thưa đại ca.
Chú phạm nhân mới toát hết mồ hôi hột… Nhưng một lúc sau… tên đàn em quay về bẩm báo đại ca, vừa đi vừa khóc:
- Em xin chịu tội với đại ca em không làm được.
- Thằng này nhu nhược quá, thế nó đã làm gì với con gà đầu tiên?
- Nó liếm phao câu con gà.
Thursday, February 24, 2011
What is the difference between raise and rise?
Raise vs. Rise
Both words can mean "to move upwards", but they are not interchangeable. "Rise" is an intransitive verb and "raise" is a transitive verb.
Intransitive verbs, like rise, do not require an object. "Rise" does not require an object to do the motion. E.g., the sun rises every morning; she rose from her nap around 2 o'clock. The sun is rising on its own as did the napping girl.
Transitive verbs, like raise, require an object. "Raise" requires an object to cause the motion. E.g., she raised her hand to answer the question; She raised the girl up onto his shoulders. The girl moved her own arm to answer the question and physically lifted the child onto his shoulders.
Raise is a regular verb: raise, raised, raised
Rise is an irregular verb: rise, rose, risen
Common Uses of Rise
To move into an upright position from lying, kneeling or sitting: Please rise for the Lord's Prayer.
To move upward without assistance: He likes to rise with the sun.
To return from death: Michael Jackson rose from the dead in his video "Thriller".
Common Uses of Raise
To elevate: She raised the bar in the competition.
To lift something: Please raise your hand.
To set upright by building: They raised the statue in her honor.
To bring to maturity: She raised him all by herself.
To increase: He raised his bet by five dollars.
Both words can mean "to move upwards", but they are not interchangeable. "Rise" is an intransitive verb and "raise" is a transitive verb.
Intransitive verbs, like rise, do not require an object. "Rise" does not require an object to do the motion. E.g., the sun rises every morning; she rose from her nap around 2 o'clock. The sun is rising on its own as did the napping girl.
Transitive verbs, like raise, require an object. "Raise" requires an object to cause the motion. E.g., she raised her hand to answer the question; She raised the girl up onto his shoulders. The girl moved her own arm to answer the question and physically lifted the child onto his shoulders.
Raise is a regular verb: raise, raised, raised
Rise is an irregular verb: rise, rose, risen
Common Uses of Rise
To move into an upright position from lying, kneeling or sitting: Please rise for the Lord's Prayer.
To move upward without assistance: He likes to rise with the sun.
To return from death: Michael Jackson rose from the dead in his video "Thriller".
Common Uses of Raise
To elevate: She raised the bar in the competition.
To lift something: Please raise your hand.
To set upright by building: They raised the statue in her honor.
To bring to maturity: She raised him all by herself.
To increase: He raised his bet by five dollars.
Wednesday, February 23, 2011
Some sentence pattern for using the 'make' word
- Make light of = treat as unimportant (xem như là không quan trọng). Ngược với nó là Make much of=treat as very important.
For example: Make light of it
- Don’t make fun of me (make fun of= chế nhạo) - đừng có mà lôi em ra làm trò cười!.
- make sense(hợp lý, có thể hiểu được): It doesn’t make any sense - Chẳng hợp lý gì cả, chẳng hiểu gì cả.
- make up someone’s mind là quyết định
- Make up a story: Dựng nên một câu chuyện
- She’s making up for a big show: Cô ấy đang trang điểm cho một buổi biểu diễn lớn.
Let me make it up to you: Để tôi đền cho bạn nhé.
You should make up with her: Hãy làm lành với cô ấy đi.
- Make someone’s day chắc vui hơn. Ví dụ như Thank you very much for your gift. It really made my day! Có nghĩa là Rất cám ơn bạn về món quà. Nó làm tôi thực sự hạnh phúc!
For example: Make light of it
- Don’t make fun of me (make fun of= chế nhạo) - đừng có mà lôi em ra làm trò cười!.
- make sense(hợp lý, có thể hiểu được): It doesn’t make any sense - Chẳng hợp lý gì cả, chẳng hiểu gì cả.
- make up someone’s mind là quyết định
- Make up a story: Dựng nên một câu chuyện
- She’s making up for a big show: Cô ấy đang trang điểm cho một buổi biểu diễn lớn.
Let me make it up to you: Để tôi đền cho bạn nhé.
You should make up with her: Hãy làm lành với cô ấy đi.
- Make someone’s day chắc vui hơn. Ví dụ như Thank you very much for your gift. It really made my day! Có nghĩa là Rất cám ơn bạn về món quà. Nó làm tôi thực sự hạnh phúc!
Sunday, December 12, 2010
Phrasal Verbs – ‘take’ part 3
‘to take someone out’ means to spend time with them at the restaurant or cinema for example.
* He took me out on Friday night to a lovely restaurant.
* I took the children out for the day to the beach.
‘to take out’ money means to withdraw it from your bank account.
* I went to the cash machine and took out $100 this morning.
* He took out $1000 from his savings account to pay for his car.
‘to take out on’ If you take something out on someone it means that you are unpleasant to someone because you are angry or upset.
* Don’t take your anger out on me. It’s not my fault.
* When he’s fed up, he takes his anger out on his family.
‘to take over’ means to gain control of another company by buying it.
* All the high street shops have been taken over by the large chains stores.
* My parent’s factory was taken over by a large group that wanted production locally.
‘to take over’ a job or responsibility means you start doing it and replace the previous person who was doing it.
* I’ve taken over from Fiona. She left at the end of last month.
* Rafael takes over as Managing Director in June when Pierre retires.
‘to take over’ also means to become more important or successful than something else.
* It has now taken over as our biggest selling product.
* Less people buy CDs now. Buying on the internet has taken over as the way to buy music.
‘to take round’ means to take someone to a place and show them it.
* When I arrived, she took me round and introduced me to everyone.
* She took me round the house and showed me all the changes they had made.
‘to take through’ means to explain something to someone so they understand how to do it.
* He took me through the registration process and explained it all.
* I took Jim through the schedule and explained how it works.
‘to take to’ means to begin to like something.
* I’ve really taken to my French class. I enjoy it very much.
* I didn’t think she’d take to it but she seems to love it.
* He took me out on Friday night to a lovely restaurant.
* I took the children out for the day to the beach.
‘to take out’ money means to withdraw it from your bank account.
* I went to the cash machine and took out $100 this morning.
* He took out $1000 from his savings account to pay for his car.
‘to take out on’ If you take something out on someone it means that you are unpleasant to someone because you are angry or upset.
* Don’t take your anger out on me. It’s not my fault.
* When he’s fed up, he takes his anger out on his family.
‘to take over’ means to gain control of another company by buying it.
* All the high street shops have been taken over by the large chains stores.
* My parent’s factory was taken over by a large group that wanted production locally.
‘to take over’ a job or responsibility means you start doing it and replace the previous person who was doing it.
* I’ve taken over from Fiona. She left at the end of last month.
* Rafael takes over as Managing Director in June when Pierre retires.
‘to take over’ also means to become more important or successful than something else.
* It has now taken over as our biggest selling product.
* Less people buy CDs now. Buying on the internet has taken over as the way to buy music.
‘to take round’ means to take someone to a place and show them it.
* When I arrived, she took me round and introduced me to everyone.
* She took me round the house and showed me all the changes they had made.
‘to take through’ means to explain something to someone so they understand how to do it.
* He took me through the registration process and explained it all.
* I took Jim through the schedule and explained how it works.
‘to take to’ means to begin to like something.
* I’ve really taken to my French class. I enjoy it very much.
* I didn’t think she’d take to it but she seems to love it.
Tuesday, December 7, 2010
Nguồn gốc những cái tên trong tiếng Anh
Forename, givenname hay firstname thường là các âm đơn giản, hợp với surname, familyname hay lastname, hoặc thích hợp với những cái tên đã có trong gia đình hay những thứ khác liên quan tới (như có nhiều người đã đặt tên cho trẻ con theo tên của những người nổi tiếng), hoặc những cái tên được đặt theo một sở thích kỳ quặc nào đó (có rất nhiều những cái tên như Seaweed và Rainbow trong thời kỳ hippy - thời kỳ thanh niên lập dị nửa sau thập kỷ 1960).
Tất cả mọi thứ chạy theo mốt, và cả những cái tên cũng vậy. Qua nhiều năm, những cái tên thông dụng nhất đã trở thành những cái tên cũ, những cái tên như Mary và Ann dành cho con gái, John và Joseph cho con trai. Tuy nhiên, trong khoảng hai thế hệ gần đây, những cái tên như Ashley, Jessica và Nicole đã trở thành mốt với các cô gái. Các bậc cha mẹ thì đặt tên cho những cậu bé là Brandon và Cody, Dylan và Jeremy. Và cho tới ngày nay thì những cái tên như Dylan hay Tiffany đã dần trở thành những cái tên cũ, xu hướng của những cái tên lại thay đổi. Trong cuốn sách Beyond Jennifer and Jason (đây cũng là hai cái tên phổ biến), tác giả Linda Rosenkrantz và Pamela Redmond Satran dự đoán rằng những cái tên cũ sẽ trở lại: Edna, Elvira, Agnes, Eunice, Hazel, và Matilda cho con gái; Archibald, Bartholomew, Clyde, Felix, Ignatius, và Hector cho con trai.
Familyname hay surname là một phần trong tên, chỉ ra gia đình mà người mang tên họ đó thuộc về, và thường được viết sau tên do gia đình đặt (forename / firstname), chính bởi vậy nên gọi là laststname.
Nguồn gốc của familyname tuỳ thuộc vào từng khu vực. Ở châu Âu, tên họ thường nói lên một điều gì đó về người mang tên đó như nghề nghiệp, nơi xuất thân, tầng lớp xã hội hay tên của cha mẹ: Robert Smith sẽ viết tắt cho Robert the smith, Mary Windsor viết tắt của Mary of Windsor, Mark Johnson viết tắt của Mark, son of John, Richard Freeman là Richard the Freeman …
Ở châu Mỹ, mốt số người da đen mang tên họ có nguồn gốc là những cái tên nô lệ. Một số, như Muhammad Ali đã thay đổi tên thay vì phải sống với cái tên mà chủ nô đã đặt.
Ở những nơi mà tên họ được dùng rất phổ biến, những cái tên phụ thường được đặt thêm. Ví dụ như ở Ireland, Murphy là một cái tên rất phổ biến, đặc biệt gia đình Murphy hay đại gia đình trở thành nickname, từ đó mà gia đình Denis Murphy được gọi là “The Weavers”, và bản thân Denis thì gọi là Denis “The Weavers” Murphy.
Những họ phổ biến thường có etymological histories. Ví dụ, dưới đây là nghĩa của một số tên họ phổ biến: (có nhiều lắm, tớ chỉ lấy một số làm ví dụ)
HACKER: người đốn gỗ, tiều phu
HALE: người sống bên triền núi
HALLIDAY: sinh vào ngày nghỉ (ông David đồng tác giả của cuốn Fundamentals of Physics cũng có cái họ này )
HAMMOND: người bảo vệ chính
HASEN, HANSON: đời sau của Han hay John
JACK(E): little John
JACKSON: con trai của Jack
KAHN: thầy tu
KAPLAN: cha tuyên uý (trong các nhà nguyện ở nhà tù, trường học)
KEARNEY: người lính
KELLY: chiến sĩ
KELVIN: người sống bên sông hẹp
KENNEDY: thủ lĩnh xấu xí
KENT: trắng, sáng
LARCHER: người bắn cung
LARSEN, LARSON: con trai của Lars hay Laurence
LAURENCE, LAURANCE, LAWRENCE: cây nguyệt quế
LEE, LEIGH, LEA: người sống trên cánh đồng
LENNOX: người sống trên cây du
LESLEY, LESLIE: người sống trên pháo đài xám
LEVI, LEVY: tham gia vào, nhập vào
LEWIS: trận chiến đấu nổi tiếng
LIDDEL: người sống bên dòng sông lớn
MABON: anh hùng trẻ tuổi
MACCONNACHIE: con trai của Ducan (Mac name = son of)
MACKAY, MACKIE: con trai của Keith
MAGNUS: vĩ đại
MANN: người đầy tớ, chư hầu
MARSHAL(L): người coi ngựa, thợ đóng móng ngựa
OLIVER, OLLIVER: tốt bụng
OWEN: đứa nhỏ sinh ra khoẻ mạnh
IDE: niềm hạnh phúc
ILE(S): người sống trên đảo
ILLINGWORTH: đến từ Illingworth (Yorkshire)
INC: người sống trong ngôi nhà lớn
ING(S): người sống trên đồng cỏ
INGLE: yêu quý, yêu thích
INMAN: chủ quán trọ
JEKYLL: vị quan tòa dễ tính
JELLICOS: thích thú
KEBLE: dũng cảm
LACY: người đến từ Lassy (Pháp)
LADD: người đày tớ, lad
LAKR: người sống bên dòng nước
MALKIN: lộn xộn, bù nhìn
MASSINGER: người đưa tin
MAWER: thợ gặt
MELLOR: thợ xay
MELVILLE: người sống ở vùng đất nghèo khổ
MEREDITH: ngày chết chóc
MERRRYWEATHER: con người vui vẻ
* Với con trai thì tên thuờng là:
- anthony: có cá tính mạnh mẽ
- arthur: thích đọc sách
- charles: trung thục, nhã nhặn, có chút cúng nhắc
- dane: tóc vàng, phẩm vị tốt
- david: trí tuệ, can đảm, khôi ngô
- dennis: thích quậy phá, hay giúp người
- george: thông minh, nhẫn nại
- henry: thân thiết, có mưu đồ mạnh mẽ
- Jack: đáng yêu, thông minh, hiếu động
- James: khôi ngô, học rọng, đáng tin
- John: bảo thủ, trí tuệ, hiền hậu
- mark: hóm hỉnh, thích vận động, gần gũi
- martin: hiếu chiến, nghiêm khắc với bản thân, tinh tế
- peter: thành thục, thẳng thắn, không giả tạo
- William: thông minh, bảo thủ
From another resource
Tất cả mọi thứ chạy theo mốt, và cả những cái tên cũng vậy. Qua nhiều năm, những cái tên thông dụng nhất đã trở thành những cái tên cũ, những cái tên như Mary và Ann dành cho con gái, John và Joseph cho con trai. Tuy nhiên, trong khoảng hai thế hệ gần đây, những cái tên như Ashley, Jessica và Nicole đã trở thành mốt với các cô gái. Các bậc cha mẹ thì đặt tên cho những cậu bé là Brandon và Cody, Dylan và Jeremy. Và cho tới ngày nay thì những cái tên như Dylan hay Tiffany đã dần trở thành những cái tên cũ, xu hướng của những cái tên lại thay đổi. Trong cuốn sách Beyond Jennifer and Jason (đây cũng là hai cái tên phổ biến), tác giả Linda Rosenkrantz và Pamela Redmond Satran dự đoán rằng những cái tên cũ sẽ trở lại: Edna, Elvira, Agnes, Eunice, Hazel, và Matilda cho con gái; Archibald, Bartholomew, Clyde, Felix, Ignatius, và Hector cho con trai.
Familyname hay surname là một phần trong tên, chỉ ra gia đình mà người mang tên họ đó thuộc về, và thường được viết sau tên do gia đình đặt (forename / firstname), chính bởi vậy nên gọi là laststname.
Nguồn gốc của familyname tuỳ thuộc vào từng khu vực. Ở châu Âu, tên họ thường nói lên một điều gì đó về người mang tên đó như nghề nghiệp, nơi xuất thân, tầng lớp xã hội hay tên của cha mẹ: Robert Smith sẽ viết tắt cho Robert the smith, Mary Windsor viết tắt của Mary of Windsor, Mark Johnson viết tắt của Mark, son of John, Richard Freeman là Richard the Freeman …
Ở châu Mỹ, mốt số người da đen mang tên họ có nguồn gốc là những cái tên nô lệ. Một số, như Muhammad Ali đã thay đổi tên thay vì phải sống với cái tên mà chủ nô đã đặt.
Ở những nơi mà tên họ được dùng rất phổ biến, những cái tên phụ thường được đặt thêm. Ví dụ như ở Ireland, Murphy là một cái tên rất phổ biến, đặc biệt gia đình Murphy hay đại gia đình trở thành nickname, từ đó mà gia đình Denis Murphy được gọi là “The Weavers”, và bản thân Denis thì gọi là Denis “The Weavers” Murphy.
Những họ phổ biến thường có etymological histories. Ví dụ, dưới đây là nghĩa của một số tên họ phổ biến: (có nhiều lắm, tớ chỉ lấy một số làm ví dụ)
HACKER: người đốn gỗ, tiều phu
HALE: người sống bên triền núi
HALLIDAY: sinh vào ngày nghỉ (ông David đồng tác giả của cuốn Fundamentals of Physics cũng có cái họ này )
HAMMOND: người bảo vệ chính
HASEN, HANSON: đời sau của Han hay John
JACK(E): little John
JACKSON: con trai của Jack
KAHN: thầy tu
KAPLAN: cha tuyên uý (trong các nhà nguyện ở nhà tù, trường học)
KEARNEY: người lính
KELLY: chiến sĩ
KELVIN: người sống bên sông hẹp
KENNEDY: thủ lĩnh xấu xí
KENT: trắng, sáng
LARCHER: người bắn cung
LARSEN, LARSON: con trai của Lars hay Laurence
LAURENCE, LAURANCE, LAWRENCE: cây nguyệt quế
LEE, LEIGH, LEA: người sống trên cánh đồng
LENNOX: người sống trên cây du
LESLEY, LESLIE: người sống trên pháo đài xám
LEVI, LEVY: tham gia vào, nhập vào
LEWIS: trận chiến đấu nổi tiếng
LIDDEL: người sống bên dòng sông lớn
MABON: anh hùng trẻ tuổi
MACCONNACHIE: con trai của Ducan (Mac name = son of)
MACKAY, MACKIE: con trai của Keith
MAGNUS: vĩ đại
MANN: người đầy tớ, chư hầu
MARSHAL(L): người coi ngựa, thợ đóng móng ngựa
OLIVER, OLLIVER: tốt bụng
OWEN: đứa nhỏ sinh ra khoẻ mạnh
IDE: niềm hạnh phúc
ILE(S): người sống trên đảo
ILLINGWORTH: đến từ Illingworth (Yorkshire)
INC: người sống trong ngôi nhà lớn
ING(S): người sống trên đồng cỏ
INGLE: yêu quý, yêu thích
INMAN: chủ quán trọ
JEKYLL: vị quan tòa dễ tính
JELLICOS: thích thú
KEBLE: dũng cảm
LACY: người đến từ Lassy (Pháp)
LADD: người đày tớ, lad
LAKR: người sống bên dòng nước
MALKIN: lộn xộn, bù nhìn
MASSINGER: người đưa tin
MAWER: thợ gặt
MELLOR: thợ xay
MELVILLE: người sống ở vùng đất nghèo khổ
MEREDITH: ngày chết chóc
MERRRYWEATHER: con người vui vẻ
* Với con trai thì tên thuờng là:
- anthony: có cá tính mạnh mẽ
- arthur: thích đọc sách
- charles: trung thục, nhã nhặn, có chút cúng nhắc
- dane: tóc vàng, phẩm vị tốt
- david: trí tuệ, can đảm, khôi ngô
- dennis: thích quậy phá, hay giúp người
- george: thông minh, nhẫn nại
- henry: thân thiết, có mưu đồ mạnh mẽ
- Jack: đáng yêu, thông minh, hiếu động
- James: khôi ngô, học rọng, đáng tin
- John: bảo thủ, trí tuệ, hiền hậu
- mark: hóm hỉnh, thích vận động, gần gũi
- martin: hiếu chiến, nghiêm khắc với bản thân, tinh tế
- peter: thành thục, thẳng thắn, không giả tạo
- William: thông minh, bảo thủ
From another resource
Understanding English Grammar – phrasal verbs ‘stand’ part 2
Here are some more common expressions using the verb ‘to stand’ combined with particles:
‘to stand in’ means to replace or represent someone for a short time.
* I’ll ask one of my colleagues to stand in while I’m away.
* Another actor stood in for him while he was ill.
‘to stand out’ means to be much better than similar things or people.
* One person stands out from all the candidates that we have met.
* There is one solution that stands out clearly as the best.
‘to stand out’ also means to be noticeable because they are very different from others.
* With her height and red hair, she always stands out in a crowd.
* Children never want to stand out but to be just like everyone else.
‘to stand over’ means to supervise closely, watch what someone is doing.
* She stood over me while I did the work just to be sure that I had done it properly.
* I had to stand over my children otherwise they didn’t do their homework.
‘to stand round’ means to spend time standing, waiting for someone or something or doing nothing.
* They just stood round and watched. They didn’t help.
* We stood round in the cold for half an hour waiting for them to arrive.
‘to stand up’ means to rise into a standing position.
* At school, we had to stand up whenever a teacher entered the room.
* When she came in the room, everyone stood up to greet her.
‘to stand someone up’ means to fail to meet them on purpose, usually for a romantic date.
* He didn’t come. He stood me up!
* I waited in the restaurant for an hour before I realised I’d been stood up.
‘to stand up for’ something means to defend it because you believe in it.
* You have to stand up for what you believe in.
* You have to stand up for yourself, no one else will.
‘to stand up to’ means to not give in to someone in a powerful position, to argue your case
* He was never afraid to stand up to his father even when he was very small.
* The management is too weak to stand up to the union and their demands.
‘to stand in’ means to replace or represent someone for a short time.
* I’ll ask one of my colleagues to stand in while I’m away.
* Another actor stood in for him while he was ill.
‘to stand out’ means to be much better than similar things or people.
* One person stands out from all the candidates that we have met.
* There is one solution that stands out clearly as the best.
‘to stand out’ also means to be noticeable because they are very different from others.
* With her height and red hair, she always stands out in a crowd.
* Children never want to stand out but to be just like everyone else.
‘to stand over’ means to supervise closely, watch what someone is doing.
* She stood over me while I did the work just to be sure that I had done it properly.
* I had to stand over my children otherwise they didn’t do their homework.
‘to stand round’ means to spend time standing, waiting for someone or something or doing nothing.
* They just stood round and watched. They didn’t help.
* We stood round in the cold for half an hour waiting for them to arrive.
‘to stand up’ means to rise into a standing position.
* At school, we had to stand up whenever a teacher entered the room.
* When she came in the room, everyone stood up to greet her.
‘to stand someone up’ means to fail to meet them on purpose, usually for a romantic date.
* He didn’t come. He stood me up!
* I waited in the restaurant for an hour before I realised I’d been stood up.
‘to stand up for’ something means to defend it because you believe in it.
* You have to stand up for what you believe in.
* You have to stand up for yourself, no one else will.
‘to stand up to’ means to not give in to someone in a powerful position, to argue your case
* He was never afraid to stand up to his father even when he was very small.
* The management is too weak to stand up to the union and their demands.
Understanding English Grammar – phrasal verbs ‘stop’
These exercises are about using the verb ‘to stop ‘ combined with particles:
‘to stop away’ means to deliberately not go back to a place.
* Since the beach was polluted by petrol, people have been stopping away.
* After the terrorist attacks on London, tourists stopped away for a while.
‘to stop back’ means to return to a place at a later time.
* I didn’t have time to talk so I told him to stop back later when I had some free time.
* I’ll stop back on the way home from work and see how you are.
‘to stop behind’ means to stay in a place after everyone else has left.
* I stopped behind after the meeting to talk to Bill.
* Stop behind after class so I can give you some extra work to do.
‘to stop by’ means to visit a place quickly.
* I’m going to stop by Jim’s house on the way home.
* Stop by for a coffee when you are next here.
‘to stop in’ means to not go out.
* I’m not going to the cinema with them this evening. I’ve decided to stop in.
* I’m stopping in and watching TV tonight. I can’t afford to go out.
‘to stop off’ means to stay in a place in the middle of a journey.
* We stopped off in Paris on the way to Nice to visit some friends.
* I’ll stop off at the shops on the way home and buy some bread.
‘to stop out’ means to stay out late at night.
* When I was a student, I often stopped out all night and came home for breakfast.
* He often stops out all night during the holidays and comes home at dawn.
‘to stop over’ means to spend a night in a place in the middle of a journey.
* On the way to Australia, we are stopping over in Singapore.
* On the round the world ticket, we can stop over in five different countries.
‘to stop up’ means to not go to bed until much later than usual.
* Don’t stop up too late. You’ve got school tomorrow.
* We all stopped up until midnight to see the New Year in.
‘to stop away’ means to deliberately not go back to a place.
* Since the beach was polluted by petrol, people have been stopping away.
* After the terrorist attacks on London, tourists stopped away for a while.
‘to stop back’ means to return to a place at a later time.
* I didn’t have time to talk so I told him to stop back later when I had some free time.
* I’ll stop back on the way home from work and see how you are.
‘to stop behind’ means to stay in a place after everyone else has left.
* I stopped behind after the meeting to talk to Bill.
* Stop behind after class so I can give you some extra work to do.
‘to stop by’ means to visit a place quickly.
* I’m going to stop by Jim’s house on the way home.
* Stop by for a coffee when you are next here.
‘to stop in’ means to not go out.
* I’m not going to the cinema with them this evening. I’ve decided to stop in.
* I’m stopping in and watching TV tonight. I can’t afford to go out.
‘to stop off’ means to stay in a place in the middle of a journey.
* We stopped off in Paris on the way to Nice to visit some friends.
* I’ll stop off at the shops on the way home and buy some bread.
‘to stop out’ means to stay out late at night.
* When I was a student, I often stopped out all night and came home for breakfast.
* He often stops out all night during the holidays and comes home at dawn.
‘to stop over’ means to spend a night in a place in the middle of a journey.
* On the way to Australia, we are stopping over in Singapore.
* On the round the world ticket, we can stop over in five different countries.
‘to stop up’ means to not go to bed until much later than usual.
* Don’t stop up too late. You’ve got school tomorrow.
* We all stopped up until midnight to see the New Year in.
Understanding English Grammar – phrasal verbs ‘stay’
Now let’s look at some common expressions using the verb ‘to stay’ combined with particles:
‘to stay ahead’ of someone or something means to remain in a better position than them
* We have to invest in new equipment if we want to stay ahead of the competition.
* The company is always looking for a way to stay ahead of the others.
‘to stay away from’ someone or a place means to avoid them, not to go near them.
* I told you to stay away from that part of town, it is dangerous.
* I prefer to stay away from discussing politics. It always causes an argument.
‘to stay behind’ means to remain in a place after everyone else has left.
* The teacher asked me to stay behind after class to finish my work.
* I stayed behind after the meeting to discuss a few things that were not on the agenda.
‘to stay in’ means to not go out but to remain at home.
* I’m going to stay in tonight and get an early night.
* We didn’t go out. We stayed in and watched TV yesterday evening.
‘to stay off’ means to not go to work or school.
* Stay off until you’re feeling better. Don’t come in to work tomorrow.
* I stayed off for three days until I felt better.
‘to stay on’ means to remain in a place or job longer than planned.
* He stayed on as a consultant after he retired as chairman.
* You can leave school at sixteen but I stayed on until I was eighteen.
‘to stay out’ means to remain away from home.
* We stayed out all night and took the subway home as people were going to work.
* As I was leaving, my mother told me not to stay out too late.
‘to stay out of’ something means to not get involved or take part.
* Stay out of this. It doesn’t concern you.
* I’m staying out of this. I don’t want to get involved.
‘to stay over’ means to spend the night at someone’s instead of leaving.
* Why don’t you stay over? You’re going to miss the last train.
* I stayed over at my friend’s because I don’t like driving at night.
‘to stay up’ means to not go to bed at the usual time.
* I’m really tired today. I stayed up until two last night.
* He stayed up all last night working. He had an essay to finish.
‘to stay ahead’ of someone or something means to remain in a better position than them
* We have to invest in new equipment if we want to stay ahead of the competition.
* The company is always looking for a way to stay ahead of the others.
‘to stay away from’ someone or a place means to avoid them, not to go near them.
* I told you to stay away from that part of town, it is dangerous.
* I prefer to stay away from discussing politics. It always causes an argument.
‘to stay behind’ means to remain in a place after everyone else has left.
* The teacher asked me to stay behind after class to finish my work.
* I stayed behind after the meeting to discuss a few things that were not on the agenda.
‘to stay in’ means to not go out but to remain at home.
* I’m going to stay in tonight and get an early night.
* We didn’t go out. We stayed in and watched TV yesterday evening.
‘to stay off’ means to not go to work or school.
* Stay off until you’re feeling better. Don’t come in to work tomorrow.
* I stayed off for three days until I felt better.
‘to stay on’ means to remain in a place or job longer than planned.
* He stayed on as a consultant after he retired as chairman.
* You can leave school at sixteen but I stayed on until I was eighteen.
‘to stay out’ means to remain away from home.
* We stayed out all night and took the subway home as people were going to work.
* As I was leaving, my mother told me not to stay out too late.
‘to stay out of’ something means to not get involved or take part.
* Stay out of this. It doesn’t concern you.
* I’m staying out of this. I don’t want to get involved.
‘to stay over’ means to spend the night at someone’s instead of leaving.
* Why don’t you stay over? You’re going to miss the last train.
* I stayed over at my friend’s because I don’t like driving at night.
‘to stay up’ means to not go to bed at the usual time.
* I’m really tired today. I stayed up until two last night.
* He stayed up all last night working. He had an essay to finish.
Phrasal Verbs – take part 2
Now let’s continue looking at some common expressions using the verb ‘to take ‘ combined with particles:
‘to take in’ means to let someone stay in your house as a guest.
* She is taking in paying guests to help pay for her house.
* She took in a lodger to help pay the mortgage.
‘to take in’ also means to deceive someone, to make someone believe something that is not true.
* I was completely taken in by him. I believed everything he said.
* Don’t be taken in by all the publicity. It’s a very expensive product.
‘to take in’ also means to understand, comprehend a situation.
* I just couldn’t take in what he was saying. It didn’t make sense.
* He was in shock and couldn’t take in what people were saying to him.
‘to take in’ also means to take something for repair.
* I took my car in this morning for a service.
* I’ll take it in and get it cleaned.
‘to take off’ means to remove something, especially clothes.
* I had to take my coat off when the sun came out, it was so warm.
* I wish he would take off his sunglasses so we can see his eyes.
‘to take off’ is also to be away from work for holidays or illness.
* He has never taken a day off in twenty years. He’s our best employee.
* I’m going to take a couple of days off to visit my parents.
‘to take off’ is also when a plane leaves the ground.
* The plane was over half an hour late taking off but we arrived on time.
* I hate taking off. I can’t see how the plane can get off the ground.
‘to take on’ means to begin to employ someone.
* Sophie has just been taken on with a permanent contract.
* We need to take on a couple of extra sales people as business is growing very fast.
‘to take on’ also means to accept a responsibility or a work.
* We’ve taken on too much work. We just don’t have enough staff to do it.
* We can’t take on any more new clients. We have too many already.
‘to take out’ means to remove something from a particular place.
* He took the picture out of the frame and gave it to me.
* She had to take everything out of her handbag before she found her papers.
‘to take in’ means to let someone stay in your house as a guest.
* She is taking in paying guests to help pay for her house.
* She took in a lodger to help pay the mortgage.
‘to take in’ also means to deceive someone, to make someone believe something that is not true.
* I was completely taken in by him. I believed everything he said.
* Don’t be taken in by all the publicity. It’s a very expensive product.
‘to take in’ also means to understand, comprehend a situation.
* I just couldn’t take in what he was saying. It didn’t make sense.
* He was in shock and couldn’t take in what people were saying to him.
‘to take in’ also means to take something for repair.
* I took my car in this morning for a service.
* I’ll take it in and get it cleaned.
‘to take off’ means to remove something, especially clothes.
* I had to take my coat off when the sun came out, it was so warm.
* I wish he would take off his sunglasses so we can see his eyes.
‘to take off’ is also to be away from work for holidays or illness.
* He has never taken a day off in twenty years. He’s our best employee.
* I’m going to take a couple of days off to visit my parents.
‘to take off’ is also when a plane leaves the ground.
* The plane was over half an hour late taking off but we arrived on time.
* I hate taking off. I can’t see how the plane can get off the ground.
‘to take on’ means to begin to employ someone.
* Sophie has just been taken on with a permanent contract.
* We need to take on a couple of extra sales people as business is growing very fast.
‘to take on’ also means to accept a responsibility or a work.
* We’ve taken on too much work. We just don’t have enough staff to do it.
* We can’t take on any more new clients. We have too many already.
‘to take out’ means to remove something from a particular place.
* He took the picture out of the frame and gave it to me.
* She had to take everything out of her handbag before she found her papers.
Phrasal Verbs -’take’ part 1
Now let’s begin looking at some common expressions using the verb ‘to take ‘ combined with particles:
‘to take after’ means to resemble a parent or family member.
* She’s blond with blue eyes. She takes after her father.
* He is good at maths. He doesn’t take after me!
‘to take along’ means you take someone or something with you when you go somewhere.
* I took Sue along to the party. She really enjoyed it.
* Shall we take a bottle along? That is always appreciated.
‘to take apart’ means to separate something into the parts it is made up of.
* He took the machine apart and couldn’t reassemble it.
* The machine needs taking apart and cleaning and oiling then it’ll work.
‘to take aside’ means to isolate a person from the rest of a group to talk to them privately.
* After the meeting, he took me aside and asked me what I really thought.
* She took Danny aside and explained what she wanted him to do.
‘to take away’ means to remove something from its place and put it elsewhere.
* Someone had cleaned the room and taken away all the dirty dishes.
* Take that away! I don’t want it in here.
‘to take away’ also means to remove something and stop them having it again.
* His passport was taken away so he can’t leave the country.
* Security was very strict in the airport, they even took away my bottle of water!
‘to take back’ means to return something you have bought or borrowed.
* When I got home I discovered it didn’t work so I took it back to the shop.
* When you’ve finished using it, can you take it back to the kitchen and put it away, please?
‘to take down’ means to go to a lower level or place with something.
* I took them down to the beach for the day as the weather was beautiful.
* Can you take that down, please? It shouldn’t be up here in your bedroom.
‘to take down’ also means to remove something that is attached to a wall or other object.
* When I went into the sitting room, I noticed that he had taken down all the pictures.
* Now the election is over, all the posters have been taken down.
‘to take after’ means to resemble a parent or family member.
* She’s blond with blue eyes. She takes after her father.
* He is good at maths. He doesn’t take after me!
‘to take along’ means you take someone or something with you when you go somewhere.
* I took Sue along to the party. She really enjoyed it.
* Shall we take a bottle along? That is always appreciated.
‘to take apart’ means to separate something into the parts it is made up of.
* He took the machine apart and couldn’t reassemble it.
* The machine needs taking apart and cleaning and oiling then it’ll work.
‘to take aside’ means to isolate a person from the rest of a group to talk to them privately.
* After the meeting, he took me aside and asked me what I really thought.
* She took Danny aside and explained what she wanted him to do.
‘to take away’ means to remove something from its place and put it elsewhere.
* Someone had cleaned the room and taken away all the dirty dishes.
* Take that away! I don’t want it in here.
‘to take away’ also means to remove something and stop them having it again.
* His passport was taken away so he can’t leave the country.
* Security was very strict in the airport, they even took away my bottle of water!
‘to take back’ means to return something you have bought or borrowed.
* When I got home I discovered it didn’t work so I took it back to the shop.
* When you’ve finished using it, can you take it back to the kitchen and put it away, please?
‘to take down’ means to go to a lower level or place with something.
* I took them down to the beach for the day as the weather was beautiful.
* Can you take that down, please? It shouldn’t be up here in your bedroom.
‘to take down’ also means to remove something that is attached to a wall or other object.
* When I went into the sitting room, I noticed that he had taken down all the pictures.
* Now the election is over, all the posters have been taken down.
Sunday, November 21, 2010
Một số cấu trúc cầu khiến (causative)
Dưới đây là một số cấu trúc cầu khiến (causative).
1. To have sb do sth = to get sb to do sth = Sai ai, khiến ai, bảo ai làm gì
Ex: I’ll have Peter fix my car.
Ex: I’ll get Peter to fix my car.
2. To have/to get sth done = làm một việc gì bằng cách thuê người khác
Ex: I have my hair cut. (Tôi đi cắt tóc - chứ không phải tôi tự cắt)
Ex: I have my car washed. (Tôi mang xe đi rửa ngoài dịch vụ - không phải tự rửa)
Theo khuynh hướng này động từ to want và would like cũng có thể dùng với mẫu câu như vậy: To want/ would like Sth done. (Ít dùng)
Ex: I want/ would like my car washed.
Câu hỏi dùng cho loại mẫu câu này là: What do you want done to Sth?
Ex: What do you want done to your car?
3. To make sb do sth = to force sb to do sth = Bắt buộc ai phải làm gì
Ex: The bank robbers made the manager give them all the money.
Ex: The bank robbers forced the manager to give them all the money.
Đằng sau tân ngữ của make còn có thể dùng 1 tính từ: To make sb/sth + adj
Ex: Wearing flowers made her more beautiful.
Ex: Chemical treatment will make this wood more durable
4.1. To make sb + P2 = làm cho ai bị làm sao
Ex: Working all night on Friday made me tired on Saturday.
4.2. To cause sth + P2 = làm cho cái gì bị làm sao
Ex: The big thunder storm caused many waterfront houses damaged.
Nếu tân ngữ của make là một động từ nguyên thể thì phải đặt it giữa make và tính từ, đặt động từ ra phía đằng sau: make it + adj + V as object.
Ex: The wire service made it possible to collect and distribute news faster and cheaper.
Tuy nhiên nếu tân ngữ của make là 1 danh từ hay 1 ngữ danh từ thì không được đặt it giữa make và tính từ: Make + adj + noun/ noun phrase.
Ex: The wire service made possible much speedier collection and distribution of news.
5. To let sb do sth = to permit/allow sb to do sth = để cho ai, cho phép ai làm gì
Ex: I let me go.
Ex: At first, she didn’t allow me to kiss her but…
6. To help sb to do sth/do sth = Giúp ai làm gì
Ex: Please help me to throw this table away.
Ex: She helps me open the door.
Nếu tân ngữ của help là một đại từ vô nhân xưng mang nghĩa người ta thì không cần phải nhắc đến tân ngữ đó và bỏ luôn cả to của động từ đằng sau.
Ex: This wonder drug will help (people to) recover more quickly.
Nếu tân ngữ của help và tân ngữ của động từ sau nó trùng hợp với nhau, người ta sẽ bỏ tân ngữ sau help và bỏ luôn cả to của động từ đằng sau.
Ex: The body fat of the bear will help (him to) keep him alive during hibernation.
7. Ba động từ đặc biệt: see, watch, hear
Đó là những động từ mà ngữ nghĩa của chúng sẽ thay đổi đôi chút khi động từ sau tân ngữ của chúng ở các dạng khác nhau.
+ To see/to watch/ to hear sb/sth do sth (hành động được chứng kiến từ đầu đến cuối)
Ex: I heard the telephone ring and then John answered it.
+ To see/to watch/ to hear sb/sth doing sth (hành động không được chứng kiến trọn vẹn mà chỉ ở một thời điểm)
Ex: I heard her singing at the time I came home.
1. To have sb do sth = to get sb to do sth = Sai ai, khiến ai, bảo ai làm gì
Ex: I’ll have Peter fix my car.
Ex: I’ll get Peter to fix my car.
2. To have/to get sth done = làm một việc gì bằng cách thuê người khác
Ex: I have my hair cut. (Tôi đi cắt tóc - chứ không phải tôi tự cắt)
Ex: I have my car washed. (Tôi mang xe đi rửa ngoài dịch vụ - không phải tự rửa)
Theo khuynh hướng này động từ to want và would like cũng có thể dùng với mẫu câu như vậy: To want/ would like Sth done. (Ít dùng)
Ex: I want/ would like my car washed.
Câu hỏi dùng cho loại mẫu câu này là: What do you want done to Sth?
Ex: What do you want done to your car?
3. To make sb do sth = to force sb to do sth = Bắt buộc ai phải làm gì
Ex: The bank robbers made the manager give them all the money.
Ex: The bank robbers forced the manager to give them all the money.
Đằng sau tân ngữ của make còn có thể dùng 1 tính từ: To make sb/sth + adj
Ex: Wearing flowers made her more beautiful.
Ex: Chemical treatment will make this wood more durable
4.1. To make sb + P2 = làm cho ai bị làm sao
Ex: Working all night on Friday made me tired on Saturday.
4.2. To cause sth + P2 = làm cho cái gì bị làm sao
Ex: The big thunder storm caused many waterfront houses damaged.
Nếu tân ngữ của make là một động từ nguyên thể thì phải đặt it giữa make và tính từ, đặt động từ ra phía đằng sau: make it + adj + V as object.
Ex: The wire service made it possible to collect and distribute news faster and cheaper.
Tuy nhiên nếu tân ngữ của make là 1 danh từ hay 1 ngữ danh từ thì không được đặt it giữa make và tính từ: Make + adj + noun/ noun phrase.
Ex: The wire service made possible much speedier collection and distribution of news.
5. To let sb do sth = to permit/allow sb to do sth = để cho ai, cho phép ai làm gì
Ex: I let me go.
Ex: At first, she didn’t allow me to kiss her but…
6. To help sb to do sth/do sth = Giúp ai làm gì
Ex: Please help me to throw this table away.
Ex: She helps me open the door.
Nếu tân ngữ của help là một đại từ vô nhân xưng mang nghĩa người ta thì không cần phải nhắc đến tân ngữ đó và bỏ luôn cả to của động từ đằng sau.
Ex: This wonder drug will help (people to) recover more quickly.
Nếu tân ngữ của help và tân ngữ của động từ sau nó trùng hợp với nhau, người ta sẽ bỏ tân ngữ sau help và bỏ luôn cả to của động từ đằng sau.
Ex: The body fat of the bear will help (him to) keep him alive during hibernation.
7. Ba động từ đặc biệt: see, watch, hear
Đó là những động từ mà ngữ nghĩa của chúng sẽ thay đổi đôi chút khi động từ sau tân ngữ của chúng ở các dạng khác nhau.
+ To see/to watch/ to hear sb/sth do sth (hành động được chứng kiến từ đầu đến cuối)
Ex: I heard the telephone ring and then John answered it.
+ To see/to watch/ to hear sb/sth doing sth (hành động không được chứng kiến trọn vẹn mà chỉ ở một thời điểm)
Ex: I heard her singing at the time I came home.
Friday, September 24, 2010
Kẹo cao su cho người Trung Quốc ! ! ! :)
Một du khách Trung Quốc ăn trong một nhà hàng ở Ha Nội. Sau khi thưởng thức xong món chân gà, ông này giơ một cái xương lên bảo anh bồi rằng ở Trung Quốc, người ta đưa xương này vào nhà máy, chế biến thức ăn gia súc và xuất sang Việt Nam. Sau món tráng miệng, ông khách lại lên giọng ở TQ người ta thường chiết vitamin từ vỏ chuối, xuất sang VN...
Anh bồi bàn bặm môi, bảo lão già hợm hĩnh chờ mình, rồi đi ra ngoài. Một lát sau, anh ta quay trở lại với một bao cao su đã dùng, giơ cho người khách TQ xem rồi hỏi:
- Thưa ông, ở TQ, sau khi xài xong cái này, người ta làm gì?
- Thì vứt vào sọt rác chứ làm gì?
- Ấy không! Ở đất nước chúng tôi, người ta đưa nó vào nhà máy, sản xuất kẹo cao su rồi xuất khẩu sang Trung Quốc đấy ạ!
Anh bồi bàn bặm môi, bảo lão già hợm hĩnh chờ mình, rồi đi ra ngoài. Một lát sau, anh ta quay trở lại với một bao cao su đã dùng, giơ cho người khách TQ xem rồi hỏi:
- Thưa ông, ở TQ, sau khi xài xong cái này, người ta làm gì?
- Thì vứt vào sọt rác chứ làm gì?
- Ấy không! Ở đất nước chúng tôi, người ta đưa nó vào nhà máy, sản xuất kẹo cao su rồi xuất khẩu sang Trung Quốc đấy ạ!
Tuesday, September 7, 2010
Thursday, August 26, 2010
TIẾNG VIỆT - TIẾNG MỸ RẮC RỐI
Bài viết này sâu sắc quá không thể không post lên blog của mình được. :)
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Me hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Phạm Duy
Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Đông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Đại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu. Johnson ăn mặc xuyền xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàng ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Đối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, ... hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon "thần sầu quỉ khốc" !!! Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc "đờ-mi gác-xông", sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.Chúng tôi gặp nhau trên chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Huế. Tôi về thăm
quê, còn Johnson thì sau mấy tháng nghiên cứu phong tục Tây nguyên xuống Nha Trang rồi tiếp đi dự Festival Huế. Đường dài, tàu chạy dằn xóc, chung quanh ồn ào, lao nhao chẳng ai ngủ được. Johnson rủ tôi xuống toa ăn uống, kêu mỗi người một ly cà phê đen, một bình trà nóng rồi trao đổi đủ thứ chuyện trên đời. Tôi cũng khá thán phục sự hiểu biết và thành thạo văn hóa Việt Nam của Johnson khi nghe hắn thỉnh thoảng chêm vô câu chuyện mấy câu ca dao, thành ngữ tiếng Việt. Thật thú vị khi nói chuyện với một người Mỹ bằng tiếng Việt về đề tài ngôn ngữ Việt Nam (dễ chịu hơn nhiều khi khi nó chuyện với một người Mỹ bằng ... tiếng Anh). Vậy mà Johnson vẫn lắc đầu than:
- Tiếng Việt của mấy ông rắc rối quá! Tôi học đã lâu mà vẫn còn lúng túng, nhiều lúc viết sai, nói sai lung tung cả lên. Này nhé, từ xưng hô, ăn uống, giao tiếp, ... thật lắm từ khác nhau chẳng đơn giản như tiếng Mỹ của tớ, chỉ một từ you là để nói với tất cả người đối thoại, tiếng Việt thì phân biệt ông, bà, anh, chị, em, con, cháu, ngài, mày, thầy, thằng, ... rành mạch. Tiếng Mỹ thì dùng một chữ black để chỉ tất cả những vật gì, con gì có màu đen trong khi đó tiếng Việt thì khác, ngựa đen thì gọi là ngựa ô, chó đen thì kêu là chó mực, mèo đen thì gọi là mèo mun, gà đen thì là gà quạ, bò đen là bò hóng, mực đen là mực tàu, tóc đen thì hóa thành tóc nhung hoặc tóc huyền. Đã là màu đen rồi mà người Việt còn nhấn mạnh thêm mức độ đen như đen thủi, đen thui, rồi đen tuyền, đen thắm, tím đen, đen ngắt, đen bóng, đen sì, đen đủi, đen thẳm, đen óng, đen thùi lùi, đen kịt, đen dòn, ... Còn để chỉ màu ít đen hơn thì người Việt dung chữ đen hai lần: đen đen.
Tôi cười cười:
- Thì tiếng Mỹ của ông nhiều lúc cũng rắc rối kia mà. Này nhé, người Việt nói: "Hôm qua, tôi đi tiệm" thì người Mỹ lại nói "Yesterday, I went to the shop". Tiếng Anh, đi là go, nhưng đã đi (quá khứ) thì phải viết là went. Bản thân chữ hôm qua (yesterday) đã là quá khứ rồi thì ai cũng biết mà gì cần phải đổi go thành went chi cho rối mấy người học Anh văn? Nội chuyện học thuộc lòng 154 động từ bất qui tắt của mấy ông cũng đủ làm nhiều người trên thế giới phải thi rớt lên rớt xuống. Người Việt nói hai con chó mà chẳng cần thêm s hoặc es thành hai con chó "sờ" (two dogs) như tiếng Mỹ. Một đứa con nít thì nói là one child là được rồi, vậy mà thêm một đứa nữa thì bắt đầu rối, chẳng phải là two childs mà thành two children. Một con ngỗng là one goose, hai con ngỗng thì thành two geese. Vậy mà viết một con cừu là one sheep nhưng hai con cừu thì cũng là two sheep, chẳng chịu đổi gì cả ?!.
Johnson vẫn không chịu thua:
- Văn phạm của xứ ông cũng rắc rối bỏ xừ! Xem nè, thắng và thua là hai chữ phản nghĩa chứ gì? Thua và bại là hai chữ đồng nghĩa, đúng hông?
Vậy mà, hai câu nói: "Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán" đồng nghĩa với câu "Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán"? Không thể viết là "Ngô Quyền đánh thua quân Nam Hán"!!! Phải không nào? Rồi còn, "áo ấm" tương đương với "áo lạnh", "nín thinh" giống như "làm thinh" trong khi ấm và lạnh phản nghĩa nhau, nín và làm cũng là những động từ đối nhau.
Rồi ba hồi mấy ông dùng tiếng Hán như Quốc gia rồi đổi thành tiếng Nôm ra Nhà nước, Trực thăng (có thể không cần chữ máy bay phía trước)thành Máy bay Lên thẳng (phải có chữ máy bay phía trước), Thủy quân lục chiến thì đổi là Lính thủy đánh bộ, sao không gọi luôn là lính nước đánh đất??? Lễ động thổ thì không thể sửa lại là Lễ động đất mặc dầu là thổ là đất?
Tôi tiếp tục "ăn miếng trả miếng":
- Tiếng Mỹ cũng đâu có tránh khỏi. See và look cũng đều là động từ để cùng chỉ hành động xem, nhìn, ngắm, dòm nhưng oversee (quan sát, trông nom) lại ngược nghĩa overlook (bỏ sót, không nhìn thấy). Wise man là
người thông thái, uyên bác, vậy mà thay chữ man (đàn ông) thành woman (đàn bà) thì chữ wise woman thành bà phù thủy, bà đỡ, bà lang, bà thầy bói, bà đồng bóng!!! Rồi chữ man và guy (anh chàng, gã) gần gần như
nhau thì chữ wise guy thành một kẻ hợm hĩnh, khoác lác. Sao lại "park on driveways" (đậu xe trên đường nội bộ) nhưng "drive on parkways"(lái xe trên xa lộ)?
Johnson ôm bụng cười:
- Tên món ăn Việt Nam cũng lạ, miền Nam có bánh da lợn, tưởng làm bằngthịt lợn nhưng thực chất là bằng bột, có lẽ giống như các lớp da lợn, nhưng sao không gọi là bánh da heo theo từ miền Nam mà gọi theo chữ
lợn miền Bắc? Bánh bò cũng chắng có miếng thịt bò nào. Bánh tiêu thì không rắc tiêu mà lại rắc mè. Gọi rau má mà chẳng liên quan đến má hay mẹ gì cả. Bánh tét mà gói thật chặt, chẳng thể nào tét được. Bánh dày thì lại mỏng hơn bánh chưng. Bánh chưng thì phải nấu thật lâu mới chín chứ không phải dùng cách chưng hơi hay chưng hấp. Nước lèo trong nồi hủ tiếu thì chẳng phải theo kiểu nước Lào (hay Lèo). Trái sầu riêng thì ăn vô chẳng thấy sầu riêng hay sầu chung chi cả. Bưởi Năm roi rất tuyệt nhưng sao đúng là năm roi? Trái vú sữa, Cây dái ngựa thì thật là tượng hình. Hi hi ... Ngôn từ bây giờ cũng thế, cò đất, cò nhà, ...thì chẳng dính dáng gì đến "con cò, cò bay lả, lả bay la ..." cả.
Tôi cũng chẳng vừa:
- Thế cái món hot dog của mấy ông có liên quan gì đến con chó không? Món bánh mì kẹp thịt bò băm Hamburger của Mc Donald thì đâu có thịt heo (ham). Trái thơm, trái khóm "pineapple" thì chẳng có gì liên quan đến pine (cây thông) và apple (trái táo) cả? Vào phòng thí nghiệm sinh học, ông Giáo sư bảo bắt một con "Guinea pig", nghe qua tưởng đâu là con heo xứ Guinea (ở Tây Phi Châu, giáp với Senegal, Mali, Liberia, Sierra Leone và biển Bắc Đại Tây dương) nhưng ngờ đâu là một giống chuột tên là Guinea (ở Guinea không có giống chuột này!). Đáng lý chữ football (bóng đá) thì phải viết là legball chứ, bởi vì người ta đá banh bằng cả cái chân (leg) chứ đâu chỉ cái ống chân foot từ dưới đầu gối đến trên bàn chân? Mới đây, khi dân Pháp không chịu ủng hộ Mtrong vụ chiến tranh Iraq thế là mấy dân biểu Mỹ giận đòi đổi tên món khoai tây chiên French fries bằng chữ American fries thì mấy ông Tây lại ôm bụng cười chế riễu rằng món French fries không phải xuất xứ từ Pháp mà từ ... Mỹ và là món ăn của dân Mỹ. Có lẽ mấy ông Mỹ tiền bối xưa, khi làm món này đặt tên là khoai tây Pháp cho nó có vẻ ... ngoại cho sang, giống như bây giờ một số quán ăn Việt Nam có thực đơn Lẫu Thái, Bún Singapore, Bánh bao Mã lai, Cá chiên viên Singapore, Hủ tiếu Nam Vang, ... mặc dầu nguyên liệu và cách nấu gần như 100% của Việt Nam???
Johnson gật gù:
- Ừ, cũng đúng. Nhưng lúc đầu học tiếng Việt, tôi thấy khó quá, đã lấy 24 chữ cái A, B, C của vần La tinh rồi mà bày ra thêm a, â, ă, u, ư, ơ, d, đ, ... nữa. Lại thêm kèm 5 dấu sắc ('), huyền (`), hỏi (?), ngã (~), nặng (.) và không dấu ( ) nữa. Như le, lé, lè, lẹ, lẻ, lẽ, mỗi chữ mang một nghĩa khác nhau. Rồi phải học cách bỏ dấu ở đâu trong từ cho chính xác nữa chứ. Hòa hay là hoà. Li hay là ly? Có câu thơ về dấu này cũng hay:
Chị Huyền mang nặng ngã đau,
Sao không sắc thuốc, hỏi sao cho lành ?!
Trong ngôn ngữ Việt Nam, tôi thấy nhiều chữ ghép với chữ ăn mặc dầu nó chẳng ăn nhập đến chuyện bỏ thực phẩm vào miệng, nhai và nuốt xuống gì cả. Nói ăn nhậu, ăn tiệc, ăn mùng, ăn cưới, ăn giỗ, ... thì có lý nhưng sao lại ăn nằm, ăn hút, ăn tiền, ăn lương, ăn cắp, ăn mày, ăn chặn, ăn quỵt, ăn diện, ăn đòn, ăn công, ăn năn, ăn hiếp, ăn khách, ăn ảnh, ...
Tôi bật cười chận ngang khi Johnson tiếp tục ghép chữ với từ ăn:
- Thì như tiếng Mỹ của ông vậy thôi. Chữ to get khó dịch gì ra hồn cả.
Tôi cũng có nghĩ là khi mình chưa tìm ra động từ nào thích hợp thì dùng tạm luôn chữ to get! Khi quân đội Mỹ bắt sống được Saddam Hussen ở Iraq thì tuyên bố "We got him!", sao không dùng động từ to catch, to caught, to force, to find, to capture, to pick up, ...cho rõ nghĩa?
Rồi động từ to get đi kèm các giới từ in, into, on, out, up, at-able,... thành một loạt động từ mới. Các động từ to take, to put, to be,... cũng vậy.
Johnson chuyển qua phần khác:
- Chuyện mạo từ tiếng Việt cũng làm rắc rối người nước ngoài. Người Việt nói cái bàn, cái nhà, cái gường, cái nón, ... nhưng không thể nói cái chó, cái mèo mà phải là con chó, con mèo, con người, .... Đồ vật là cái, động vật là con. Bây giờ nhiều cô cậu thanh niên Hà Nội thay vì nói cái xe Honda Dream thì lại dùng từ con Đờ-rim, rồi tiếp là con Su (Suzuki), con a còng (@), con Tô (Toyota), con Mẹc (Mercedes), ,...
Vợ chồng tôi có chuyện vui thế này: Tôi quen vợ tôi, một phần vì yêu các cô gái Việt Nam, một phần cũng để trau dồi thêm tiếng Việt. Hôm hôm chúng tôi ra Hồ Gươm dạo chơi, tôi khen: "Con hồ này đẹp quá!". Vợ tôi "chỉnh" liền: "Không, anh phải nói là cái hồ này đẹp quá!". Vậy mà đi ngang sông Tô Lịch thấy nước đen ngòm, tôi nói: "Cái sông này bẩn quá!" thì vợ tôi "sửa" ngay: "Ậy, anh phải nói là con sông này bẩn quá
chứ không nói là cái sông!". Tôi la lên: "Ồ, sao lại thế, khi là cái, khi là con, làm sao phân biệt?". Vợ tôi ôn tồn giải thích: "Cái gì động dậy, nhúc nhích thì gọi là con, như con sông có nước chảy, còn cái gì nằm im như cái hồ nuớc tĩnh mịch thì phải là cái hồ. Con chó, con mèo nó chạy được nên phải là con. Cái nhà, cái bàn, cái cột đèn đâu có di chuyển được nên phải là cái. Rõ chửa?". Lúc đó, tôi phá lên cười vì phát hiện một điều vô cùng thú vị: "À, anh hiểu rồi! Tiếng Việt thật hay. Hèn gì cái ... cái của anh nó nhúc nhích lên xuống nên phải gọi là con ..., còn của ... em, nó nằm im một chỗ nên phải gọi là cái, cái ... Ha ha ...". Hôm ấy, tôi bị mấy cái nhéo đau điếng, nhưng bù lại, có được một đêm hạnh phúc. Tôi thấy tức cười vô cùng với anh bạn Mỹ này:
- Tôi cũng có chuyện hiểu lầm trong phát âm tiếng Mỹ như thế này.
Trong một bữa tiệc với các sinh viên quốc tế, tôi nhận phần phục vụ nước uống. Gặp bà giáo người Mỹ đã đứng tuổi, tôi đến chào lịch sự và nói theo kiểu cách theo kiểu của người Việt: "Good evening, Madam. May I have a honour to serve you? Do you like my Coke?" (Chào bà, Tôi có thể hân hạnh phục vụ quí bà. Bà có muốn món Coke (Coca Cola)?). Bà này trợn mắt nhìn tôi, ra vẻ ngạc nhiên, rồi lắc đầu bỏ đi. Tôi băn khoăn chẳng hiểu chuyện gì? Hôm sau, tôi đánh bạo đến hỏi bà: "I am sorry, yesterday I have found your strange look when hearing my invitation. Was there a wrong?" (Xin lỗi, hôm qua tôi thấy bà nhìn tôi kỳ lạ khi nghe lời mời của tôi. Có điều gì không ổn vậy?). Bà giáo mỉm cười độ lượng: "Yes, I had misunderstood yours. Today, I just find out that your pronunciation is not correct. You said "Coke" not sound like "Coke" but "Cock". Cock is a male chicken but it also has a dirty meaning else. You should be careful when saying this word to a lady".
(Vâng, tôi đã hiểu lầm anh. Hôm nay, tôi mới hiểu ra là anh phát âm không đúng. Anh nói chữ "Coke" mà không giống "Coke" mà thành "Cock".
Cock là con gà trống nhưng nó cũng có một nghĩa khác xấu. Anh phải cẩn thận khi nói từ này với một phụ nữ).
Johnson "gỡ gạt":
- Hi hi ... Anh bạn người Việt dẫn tôi đến thăm nhà, đến trước ngôi nhà của mình anh nói: "Đây là nhà tôi, mời ông vào chơi", gặp vợ anh ta ra đón trước cửa, anh ta lại giới thiệu: "Đây là nhà tôi, mời ông vào chơi". Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng không hỏi và bước vào nhà, nhà anh ta thật đẹp (vợ anh ta cũng vậy!). Tôi ra lịch sự nên khen chủ nhà và nói: "Nhà anh và nhà anh thật đẹp". Hai vợ chồng nhìn nhau cười. Vì đilâu ngoài đường, lại không có WC công cộng, nên tôi hỏi anh chủ nhà "Xin ông cho tôi vào cái chỗ đi toilet của nhà ông được không?" Hi hi ... lúc đó tôi không nghĩ đến cái sự buồn cười của câu này, hôm sau nghĩ lại tôi mới thấy.
Tôi cười to kể tiếp:
- Lần đầu tiên sang Châu Âu cách đây 10 năm, tôi quen một cô sinh viên Hà Lan. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Cô rủ tôi ra bãi biển nằm phơi nắng và nói chuyện. Hôm đó, tôi chẳng đem theo cái gì để trải xuống bãi cát để nằm cả. Nói với cô này, thì cô mỉm cười: "Oh,never mind. You can lie down at my top" (Ồ, không sao. Anh có thể nằm trên cái top của tôi). Tiếng Anh của tôi cũng chẳng giỏi gì nên chẳng hiểu là nằm trên top là nằm ở đâu? Tôi chỉ biết top có nghĩa là đỉnh, là ở trên. Vậy nằm ở trên là nằm đâu? Nằm trên đầu thì chắc là không đúng rồi, ai lại nằm trên đầu mà nói chuyện với phụ nữ. Chẳng lẽ nằmmtrên ... mình cô này? Hồi lúc trước đi Tây, tôi nghe nhiều thằng bạn kháo nhau rằng, phụ nữ Tây nó ... Tây lắm, thích thì sẵn sàng ...chiều! "Tình cho không biếu không" mà. Vậy là ... lẽ nào ??? Tới nơi, tôi mới bật cười và thấy mắc cỡ trong lòng khi thấy cô này cởi áokhoác ra, trải dưới bãi cát và chỉ tôi nằm trên đó. Tối đó, về đến nhà, tôi lặng lẽ lật từ điển Anh - Việt ra xem, mới biết thêm là top còn có nghĩa là cái áo khoác ngoài của phụ nữ. Trời ơi!
Johnson vỗ vai tôi:
- Chút xíu nữa bạn là ... hố to rồi. Ha ha ... Năm ngoái, tôi có đến thăm miệt vườn Nam bộ, tôi có nghe một câu thế này mà lúc đó chẳng thế nào hiểu được: "Hôm qua, qua nói qua qua mà qua hổng qua. Hôm nay, qua hổng nói qua mà qua lại qua"........ .... .....
Câu chuyện của chúng tôi còn dài. Chia tay với Johnson ở ga Huế. Lững thửng dọc theo con đường về chợ Đông Ba, trong đầu còn vương vấn câu chuyện rắc rối tiếng Việt với Johnson, ông già chạy xích lô lẽo đẽo theo sau:
- "Ôn đi về mô khôn hè?"
Tôi gật đầu, bước lên chiếc xe cũ rích, buộc miệng:
- Có tiệm sách nào gần đây nhất, Bác? Tôi muốn mua một quyển Tự điển Tiếng Việt.
Tôi bất chợt nhớ ra rằng, trong tủ sách gia đình của tôi, có đủ loại tự điển các nước, nhưng chưa hề có một quyển Tự điển Tiếng Việt nào.
Lê Anh Tuấn
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Me hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Phạm Duy
Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống, mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc học Đông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá rõ, hắn học tiếng ở Đại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu. Johnson ăn mặc xuyền xoàng, cái đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàng ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Đối với Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, ... hắn xơi ngon lành. Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon "thần sầu quỉ khốc" !!! Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô bé Hà thành tóc "đờ-mi gác-xông", sinh viên ngành văn chương hẳn hoi. Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm đỏ coi muốn sập nhà.Chúng tôi gặp nhau trên chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Huế. Tôi về thăm
quê, còn Johnson thì sau mấy tháng nghiên cứu phong tục Tây nguyên xuống Nha Trang rồi tiếp đi dự Festival Huế. Đường dài, tàu chạy dằn xóc, chung quanh ồn ào, lao nhao chẳng ai ngủ được. Johnson rủ tôi xuống toa ăn uống, kêu mỗi người một ly cà phê đen, một bình trà nóng rồi trao đổi đủ thứ chuyện trên đời. Tôi cũng khá thán phục sự hiểu biết và thành thạo văn hóa Việt Nam của Johnson khi nghe hắn thỉnh thoảng chêm vô câu chuyện mấy câu ca dao, thành ngữ tiếng Việt. Thật thú vị khi nói chuyện với một người Mỹ bằng tiếng Việt về đề tài ngôn ngữ Việt Nam (dễ chịu hơn nhiều khi khi nó chuyện với một người Mỹ bằng ... tiếng Anh). Vậy mà Johnson vẫn lắc đầu than:
- Tiếng Việt của mấy ông rắc rối quá! Tôi học đã lâu mà vẫn còn lúng túng, nhiều lúc viết sai, nói sai lung tung cả lên. Này nhé, từ xưng hô, ăn uống, giao tiếp, ... thật lắm từ khác nhau chẳng đơn giản như tiếng Mỹ của tớ, chỉ một từ you là để nói với tất cả người đối thoại, tiếng Việt thì phân biệt ông, bà, anh, chị, em, con, cháu, ngài, mày, thầy, thằng, ... rành mạch. Tiếng Mỹ thì dùng một chữ black để chỉ tất cả những vật gì, con gì có màu đen trong khi đó tiếng Việt thì khác, ngựa đen thì gọi là ngựa ô, chó đen thì kêu là chó mực, mèo đen thì gọi là mèo mun, gà đen thì là gà quạ, bò đen là bò hóng, mực đen là mực tàu, tóc đen thì hóa thành tóc nhung hoặc tóc huyền. Đã là màu đen rồi mà người Việt còn nhấn mạnh thêm mức độ đen như đen thủi, đen thui, rồi đen tuyền, đen thắm, tím đen, đen ngắt, đen bóng, đen sì, đen đủi, đen thẳm, đen óng, đen thùi lùi, đen kịt, đen dòn, ... Còn để chỉ màu ít đen hơn thì người Việt dung chữ đen hai lần: đen đen.
Tôi cười cười:
- Thì tiếng Mỹ của ông nhiều lúc cũng rắc rối kia mà. Này nhé, người Việt nói: "Hôm qua, tôi đi tiệm" thì người Mỹ lại nói "Yesterday, I went to the shop". Tiếng Anh, đi là go, nhưng đã đi (quá khứ) thì phải viết là went. Bản thân chữ hôm qua (yesterday) đã là quá khứ rồi thì ai cũng biết mà gì cần phải đổi go thành went chi cho rối mấy người học Anh văn? Nội chuyện học thuộc lòng 154 động từ bất qui tắt của mấy ông cũng đủ làm nhiều người trên thế giới phải thi rớt lên rớt xuống. Người Việt nói hai con chó mà chẳng cần thêm s hoặc es thành hai con chó "sờ" (two dogs) như tiếng Mỹ. Một đứa con nít thì nói là one child là được rồi, vậy mà thêm một đứa nữa thì bắt đầu rối, chẳng phải là two childs mà thành two children. Một con ngỗng là one goose, hai con ngỗng thì thành two geese. Vậy mà viết một con cừu là one sheep nhưng hai con cừu thì cũng là two sheep, chẳng chịu đổi gì cả ?!.
Johnson vẫn không chịu thua:
- Văn phạm của xứ ông cũng rắc rối bỏ xừ! Xem nè, thắng và thua là hai chữ phản nghĩa chứ gì? Thua và bại là hai chữ đồng nghĩa, đúng hông?
Vậy mà, hai câu nói: "Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán" đồng nghĩa với câu "Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán"? Không thể viết là "Ngô Quyền đánh thua quân Nam Hán"!!! Phải không nào? Rồi còn, "áo ấm" tương đương với "áo lạnh", "nín thinh" giống như "làm thinh" trong khi ấm và lạnh phản nghĩa nhau, nín và làm cũng là những động từ đối nhau.
Rồi ba hồi mấy ông dùng tiếng Hán như Quốc gia rồi đổi thành tiếng Nôm ra Nhà nước, Trực thăng (có thể không cần chữ máy bay phía trước)thành Máy bay Lên thẳng (phải có chữ máy bay phía trước), Thủy quân lục chiến thì đổi là Lính thủy đánh bộ, sao không gọi luôn là lính nước đánh đất??? Lễ động thổ thì không thể sửa lại là Lễ động đất mặc dầu là thổ là đất?
Tôi tiếp tục "ăn miếng trả miếng":
- Tiếng Mỹ cũng đâu có tránh khỏi. See và look cũng đều là động từ để cùng chỉ hành động xem, nhìn, ngắm, dòm nhưng oversee (quan sát, trông nom) lại ngược nghĩa overlook (bỏ sót, không nhìn thấy). Wise man là
người thông thái, uyên bác, vậy mà thay chữ man (đàn ông) thành woman (đàn bà) thì chữ wise woman thành bà phù thủy, bà đỡ, bà lang, bà thầy bói, bà đồng bóng!!! Rồi chữ man và guy (anh chàng, gã) gần gần như
nhau thì chữ wise guy thành một kẻ hợm hĩnh, khoác lác. Sao lại "park on driveways" (đậu xe trên đường nội bộ) nhưng "drive on parkways"(lái xe trên xa lộ)?
Johnson ôm bụng cười:
- Tên món ăn Việt Nam cũng lạ, miền Nam có bánh da lợn, tưởng làm bằngthịt lợn nhưng thực chất là bằng bột, có lẽ giống như các lớp da lợn, nhưng sao không gọi là bánh da heo theo từ miền Nam mà gọi theo chữ
lợn miền Bắc? Bánh bò cũng chắng có miếng thịt bò nào. Bánh tiêu thì không rắc tiêu mà lại rắc mè. Gọi rau má mà chẳng liên quan đến má hay mẹ gì cả. Bánh tét mà gói thật chặt, chẳng thể nào tét được. Bánh dày thì lại mỏng hơn bánh chưng. Bánh chưng thì phải nấu thật lâu mới chín chứ không phải dùng cách chưng hơi hay chưng hấp. Nước lèo trong nồi hủ tiếu thì chẳng phải theo kiểu nước Lào (hay Lèo). Trái sầu riêng thì ăn vô chẳng thấy sầu riêng hay sầu chung chi cả. Bưởi Năm roi rất tuyệt nhưng sao đúng là năm roi? Trái vú sữa, Cây dái ngựa thì thật là tượng hình. Hi hi ... Ngôn từ bây giờ cũng thế, cò đất, cò nhà, ...thì chẳng dính dáng gì đến "con cò, cò bay lả, lả bay la ..." cả.
Tôi cũng chẳng vừa:
- Thế cái món hot dog của mấy ông có liên quan gì đến con chó không? Món bánh mì kẹp thịt bò băm Hamburger của Mc Donald thì đâu có thịt heo (ham). Trái thơm, trái khóm "pineapple" thì chẳng có gì liên quan đến pine (cây thông) và apple (trái táo) cả? Vào phòng thí nghiệm sinh học, ông Giáo sư bảo bắt một con "Guinea pig", nghe qua tưởng đâu là con heo xứ Guinea (ở Tây Phi Châu, giáp với Senegal, Mali, Liberia, Sierra Leone và biển Bắc Đại Tây dương) nhưng ngờ đâu là một giống chuột tên là Guinea (ở Guinea không có giống chuột này!). Đáng lý chữ football (bóng đá) thì phải viết là legball chứ, bởi vì người ta đá banh bằng cả cái chân (leg) chứ đâu chỉ cái ống chân foot từ dưới đầu gối đến trên bàn chân? Mới đây, khi dân Pháp không chịu ủng hộ Mtrong vụ chiến tranh Iraq thế là mấy dân biểu Mỹ giận đòi đổi tên món khoai tây chiên French fries bằng chữ American fries thì mấy ông Tây lại ôm bụng cười chế riễu rằng món French fries không phải xuất xứ từ Pháp mà từ ... Mỹ và là món ăn của dân Mỹ. Có lẽ mấy ông Mỹ tiền bối xưa, khi làm món này đặt tên là khoai tây Pháp cho nó có vẻ ... ngoại cho sang, giống như bây giờ một số quán ăn Việt Nam có thực đơn Lẫu Thái, Bún Singapore, Bánh bao Mã lai, Cá chiên viên Singapore, Hủ tiếu Nam Vang, ... mặc dầu nguyên liệu và cách nấu gần như 100% của Việt Nam???
Johnson gật gù:
- Ừ, cũng đúng. Nhưng lúc đầu học tiếng Việt, tôi thấy khó quá, đã lấy 24 chữ cái A, B, C của vần La tinh rồi mà bày ra thêm a, â, ă, u, ư, ơ, d, đ, ... nữa. Lại thêm kèm 5 dấu sắc ('), huyền (`), hỏi (?), ngã (~), nặng (.) và không dấu ( ) nữa. Như le, lé, lè, lẹ, lẻ, lẽ, mỗi chữ mang một nghĩa khác nhau. Rồi phải học cách bỏ dấu ở đâu trong từ cho chính xác nữa chứ. Hòa hay là hoà. Li hay là ly? Có câu thơ về dấu này cũng hay:
Chị Huyền mang nặng ngã đau,
Sao không sắc thuốc, hỏi sao cho lành ?!
Trong ngôn ngữ Việt Nam, tôi thấy nhiều chữ ghép với chữ ăn mặc dầu nó chẳng ăn nhập đến chuyện bỏ thực phẩm vào miệng, nhai và nuốt xuống gì cả. Nói ăn nhậu, ăn tiệc, ăn mùng, ăn cưới, ăn giỗ, ... thì có lý nhưng sao lại ăn nằm, ăn hút, ăn tiền, ăn lương, ăn cắp, ăn mày, ăn chặn, ăn quỵt, ăn diện, ăn đòn, ăn công, ăn năn, ăn hiếp, ăn khách, ăn ảnh, ...
Tôi bật cười chận ngang khi Johnson tiếp tục ghép chữ với từ ăn:
- Thì như tiếng Mỹ của ông vậy thôi. Chữ to get khó dịch gì ra hồn cả.
Tôi cũng có nghĩ là khi mình chưa tìm ra động từ nào thích hợp thì dùng tạm luôn chữ to get! Khi quân đội Mỹ bắt sống được Saddam Hussen ở Iraq thì tuyên bố "We got him!", sao không dùng động từ to catch, to caught, to force, to find, to capture, to pick up, ...cho rõ nghĩa?
Rồi động từ to get đi kèm các giới từ in, into, on, out, up, at-able,... thành một loạt động từ mới. Các động từ to take, to put, to be,... cũng vậy.
Johnson chuyển qua phần khác:
- Chuyện mạo từ tiếng Việt cũng làm rắc rối người nước ngoài. Người Việt nói cái bàn, cái nhà, cái gường, cái nón, ... nhưng không thể nói cái chó, cái mèo mà phải là con chó, con mèo, con người, .... Đồ vật là cái, động vật là con. Bây giờ nhiều cô cậu thanh niên Hà Nội thay vì nói cái xe Honda Dream thì lại dùng từ con Đờ-rim, rồi tiếp là con Su (Suzuki), con a còng (@), con Tô (Toyota), con Mẹc (Mercedes), ,...
Vợ chồng tôi có chuyện vui thế này: Tôi quen vợ tôi, một phần vì yêu các cô gái Việt Nam, một phần cũng để trau dồi thêm tiếng Việt. Hôm hôm chúng tôi ra Hồ Gươm dạo chơi, tôi khen: "Con hồ này đẹp quá!". Vợ tôi "chỉnh" liền: "Không, anh phải nói là cái hồ này đẹp quá!". Vậy mà đi ngang sông Tô Lịch thấy nước đen ngòm, tôi nói: "Cái sông này bẩn quá!" thì vợ tôi "sửa" ngay: "Ậy, anh phải nói là con sông này bẩn quá
chứ không nói là cái sông!". Tôi la lên: "Ồ, sao lại thế, khi là cái, khi là con, làm sao phân biệt?". Vợ tôi ôn tồn giải thích: "Cái gì động dậy, nhúc nhích thì gọi là con, như con sông có nước chảy, còn cái gì nằm im như cái hồ nuớc tĩnh mịch thì phải là cái hồ. Con chó, con mèo nó chạy được nên phải là con. Cái nhà, cái bàn, cái cột đèn đâu có di chuyển được nên phải là cái. Rõ chửa?". Lúc đó, tôi phá lên cười vì phát hiện một điều vô cùng thú vị: "À, anh hiểu rồi! Tiếng Việt thật hay. Hèn gì cái ... cái của anh nó nhúc nhích lên xuống nên phải gọi là con ..., còn của ... em, nó nằm im một chỗ nên phải gọi là cái, cái ... Ha ha ...". Hôm ấy, tôi bị mấy cái nhéo đau điếng, nhưng bù lại, có được một đêm hạnh phúc. Tôi thấy tức cười vô cùng với anh bạn Mỹ này:
- Tôi cũng có chuyện hiểu lầm trong phát âm tiếng Mỹ như thế này.
Trong một bữa tiệc với các sinh viên quốc tế, tôi nhận phần phục vụ nước uống. Gặp bà giáo người Mỹ đã đứng tuổi, tôi đến chào lịch sự và nói theo kiểu cách theo kiểu của người Việt: "Good evening, Madam. May I have a honour to serve you? Do you like my Coke?" (Chào bà, Tôi có thể hân hạnh phục vụ quí bà. Bà có muốn món Coke (Coca Cola)?). Bà này trợn mắt nhìn tôi, ra vẻ ngạc nhiên, rồi lắc đầu bỏ đi. Tôi băn khoăn chẳng hiểu chuyện gì? Hôm sau, tôi đánh bạo đến hỏi bà: "I am sorry, yesterday I have found your strange look when hearing my invitation. Was there a wrong?" (Xin lỗi, hôm qua tôi thấy bà nhìn tôi kỳ lạ khi nghe lời mời của tôi. Có điều gì không ổn vậy?). Bà giáo mỉm cười độ lượng: "Yes, I had misunderstood yours. Today, I just find out that your pronunciation is not correct. You said "Coke" not sound like "Coke" but "Cock". Cock is a male chicken but it also has a dirty meaning else. You should be careful when saying this word to a lady".
(Vâng, tôi đã hiểu lầm anh. Hôm nay, tôi mới hiểu ra là anh phát âm không đúng. Anh nói chữ "Coke" mà không giống "Coke" mà thành "Cock".
Cock là con gà trống nhưng nó cũng có một nghĩa khác xấu. Anh phải cẩn thận khi nói từ này với một phụ nữ).
Johnson "gỡ gạt":
- Hi hi ... Anh bạn người Việt dẫn tôi đến thăm nhà, đến trước ngôi nhà của mình anh nói: "Đây là nhà tôi, mời ông vào chơi", gặp vợ anh ta ra đón trước cửa, anh ta lại giới thiệu: "Đây là nhà tôi, mời ông vào chơi". Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng không hỏi và bước vào nhà, nhà anh ta thật đẹp (vợ anh ta cũng vậy!). Tôi ra lịch sự nên khen chủ nhà và nói: "Nhà anh và nhà anh thật đẹp". Hai vợ chồng nhìn nhau cười. Vì đilâu ngoài đường, lại không có WC công cộng, nên tôi hỏi anh chủ nhà "Xin ông cho tôi vào cái chỗ đi toilet của nhà ông được không?" Hi hi ... lúc đó tôi không nghĩ đến cái sự buồn cười của câu này, hôm sau nghĩ lại tôi mới thấy.
Tôi cười to kể tiếp:
- Lần đầu tiên sang Châu Âu cách đây 10 năm, tôi quen một cô sinh viên Hà Lan. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Cô rủ tôi ra bãi biển nằm phơi nắng và nói chuyện. Hôm đó, tôi chẳng đem theo cái gì để trải xuống bãi cát để nằm cả. Nói với cô này, thì cô mỉm cười: "Oh,never mind. You can lie down at my top" (Ồ, không sao. Anh có thể nằm trên cái top của tôi). Tiếng Anh của tôi cũng chẳng giỏi gì nên chẳng hiểu là nằm trên top là nằm ở đâu? Tôi chỉ biết top có nghĩa là đỉnh, là ở trên. Vậy nằm ở trên là nằm đâu? Nằm trên đầu thì chắc là không đúng rồi, ai lại nằm trên đầu mà nói chuyện với phụ nữ. Chẳng lẽ nằmmtrên ... mình cô này? Hồi lúc trước đi Tây, tôi nghe nhiều thằng bạn kháo nhau rằng, phụ nữ Tây nó ... Tây lắm, thích thì sẵn sàng ...chiều! "Tình cho không biếu không" mà. Vậy là ... lẽ nào ??? Tới nơi, tôi mới bật cười và thấy mắc cỡ trong lòng khi thấy cô này cởi áokhoác ra, trải dưới bãi cát và chỉ tôi nằm trên đó. Tối đó, về đến nhà, tôi lặng lẽ lật từ điển Anh - Việt ra xem, mới biết thêm là top còn có nghĩa là cái áo khoác ngoài của phụ nữ. Trời ơi!
Johnson vỗ vai tôi:
- Chút xíu nữa bạn là ... hố to rồi. Ha ha ... Năm ngoái, tôi có đến thăm miệt vườn Nam bộ, tôi có nghe một câu thế này mà lúc đó chẳng thế nào hiểu được: "Hôm qua, qua nói qua qua mà qua hổng qua. Hôm nay, qua hổng nói qua mà qua lại qua"........ .... .....
Câu chuyện của chúng tôi còn dài. Chia tay với Johnson ở ga Huế. Lững thửng dọc theo con đường về chợ Đông Ba, trong đầu còn vương vấn câu chuyện rắc rối tiếng Việt với Johnson, ông già chạy xích lô lẽo đẽo theo sau:
- "Ôn đi về mô khôn hè?"
Tôi gật đầu, bước lên chiếc xe cũ rích, buộc miệng:
- Có tiệm sách nào gần đây nhất, Bác? Tôi muốn mua một quyển Tự điển Tiếng Việt.
Tôi bất chợt nhớ ra rằng, trong tủ sách gia đình của tôi, có đủ loại tự điển các nước, nhưng chưa hề có một quyển Tự điển Tiếng Việt nào.
Lê Anh Tuấn
Subscribe to:
Posts (Atom)
